09/06/2015

Dùng 'siêu thực phẩm' đúng cách

Bông cải xanh. 
Bông cải xanh có năng lực chống ung thư, nhưng hiếm người nào chịu ăn sống hoặc hấp lên vì quá ngán. Thay vào đó, họ thường xử lý bằng cách trụng hoặc xào bông cải. Tuy nhiên, muốn hấp thu đủ vitamin C, chlorophyll, những chất chống ô xy hóa và chống ung thư, nên ăn bằng cách hấp. Trụng hoặc chiên xào là cách nấu nướng gây tổn thất nhiều chất dinh dưỡng nhất đối với bông cải xanh.
Dâu tây. 
Chẳng có gì tuyệt hơn được nhấm nháp dâu tây tươi vào mùa hè. Tuy nhiên, để hấp thu tối đa lượng chất xơ, chất chống ô xy hóa và vitamin C, nên tránh cắt vào thân quả dâu. Nhà dinh dưỡng học Kristy Del Coro của SPE Certified, cơ quan thiết lập tiêu chuẩn về chất lượng ẩm thực tại New York (Mỹ), giải thích rằng hành động cắt vào thân quả dâu tây dễ làm thất thoát các chất dinh dưỡng quý báu trong loại trái cây này. Trong trường hợp phải bảo quản, nên đông lạnh nguyên trái và tránh tình trạng quả bị dập trước khi ăn.
Tỏi. 
Không giống như vitamin C, allicin, enzyme chống ung thư có trong tỏi, lại chịu tình trạng phơi giữa không khí. Vì vậy, cố vấn dinh dưỡng Sara Haas của Viện Dinh dưỡng Mỹ khuyên nên cắt lát hoặc bằm tỏi và để như vậy khoảng 10 phút trước khi trộn vào món ăn để hợp chất allicin có thể được kích hoạt hoàn toàn.
Ngũ cốc nguyên hạt và đậu. Ngũ cốc nguyên hạt chưa tinh chế và đậu khô chứa hợp chất gọi là phytate, có công dụng kết dính với vitamin và khoáng chất trong thực phẩm, ngăn cản cơ thể hấp thu những chất này. Hay nói đúng hơn, ngũ cốc nguyên hạt vẫn tồn tại một lớp bao bọc bên ngoài, nên ngâm chúng vào nước qua đêm để nhả bỏ toàn bộ các chất phytate, theo chuyên gia Del Coro.
Sữa chua. Sữa chua thường có một lớp nước bên trên, và nhiều người có thói quen vớt bỏ nó trước khi ăn. Tuy nhiên, lớp chất lỏng này là hợp chất chứa protein và vitamin B12, cùng với các khoáng chất như can xi và phốt pho, theo chuyên gia Haas. Do vậy, nên khuấy sữa chua lên để không làm mất đi lớp nước giàu dinh dưỡng.
Cà chua. 
Cà chua tươi bổ sung một loại gia vị không thể thay thế được trong nhiều món ăn, nhưng nếu bạn muốn hấp thu chất lycopene chống ung thư và tim mạch, nên nấu chúng thay vì ăn sống. Các nhà nghiên cứu của Đại học Cornell (Mỹ) phát hiện hàm lượng chất chống ô xy hóa trong cà chua tăng mạnh nếu được xử lý ở nhiệt độ 88 độ C.
Thịt nướng. 
Hiếm người nào có thể chối từ món thịt nướng, nhưng cần chú ý bỏ phần thịt cháy đen để tránh hấp thụ chất sinh ung thư, theo chuyên gia dinh dưỡng Tanya Zuckerbrot ở New York. “Không nên dựa vào màu sắc của thịt, mà thay vào đó dùng nhiệt kế dùng cho thực phẩm để xác định mức nhiệt độ an toàn”, theo chuyên gia Mỹ. Bộ Nông nghiệp Mỹ tư vấn mức nhiệt độ an toàn bên trong thịt phải vào khoảng 63 độ C.
Măng tây. 
Một báo cáo đăng trên chuyên san Acta Agroculturae Scandinavica đã chỉ ra phương pháp nấu nướng giữ được chất dinh dưỡng trong măng tây. Đó là hấp nhanh hoặc xào nhanh trên lò, và sau đó giữ lại phần nước được tiết ra, vì nó giàu vitamin và khoáng chất. Có thể làm nước xốt hoặc nấu súp bằng loại nước này.

08/06/2015

Hạt Chia Seeds 1lb

 

Hạt image001Chia có tên khoa học là Salvia Hispanica, có giá trị dinh dưỡng vượt trội so với các loại cây và các nguồn hải sản vì rất giàu  acit béo omega-3, hàm lượng protein, chất xơ, canxi và chất chống oxy hóa rất caoacit béo omega-3, hàm lượng protein, chất xơ, canxi và chất chống oxy hóa rất cao.

Hạt chia giúp chống bệnh tiểu đường, tốt cho hệ tiêu hóa, tim mạch, răng và xương khỏe, giảm quá trình oxi hóa , đẹp da và tóc, giảm cân.

 

 

thaomocgarden.com bán sản phẩm hạt chia nguồn gốc thiên nhiên của 2 hãng từ Mỹ Healthworks, Viva lab.

 

07/06/2015

5 'siêu thực phẩm' ngăn ngừa ung thư, đột quỵ

image002

 

6 “siêu thực phẩm” nên thêm vào thực đơn hàng ngày để ngăn ngừa bệnh tim mạch, ung thư và đột quỵ.

 

 

 

 

1. Quả cherry

 

Cherry được phát hiện có chứa hàm lượng cao chất chống oxy hóa, có thể giúp chống viêm, ngủ ngon. Sử dụng nhiều cherry góp phần giảm tác dụng phụ, cải thiện thể lực khi tập luyện thể thao.

clip_image001

2. Bơ

Không chỉ nổi tiếng là thành phần chính trong món sốt guacamole giàu dinh dưỡng, quả bơ còn là nguồn tuyệt vời chất béo bão hòa đơn, giảm lượng cholesterol xấu, hạn chế nguy cơ đau tim và đột quỵ.

Nghiên cứu gần đây cho thấy sự kết hợp một chế độ ăn vừa phải chất béo với một quả bơ mỗi ngày có thể làm giảm nồng độ của cholesterol xấu hơn là một chế độ ăn ít chất béo, hoặc chế độ ăn vừa phải chất béo mà không bơ.

3. Quả nam việt quất

Nam việt quất được biết đến trong nhiều năm qua như một thực phẩm hỗ trợ chống nhiễm trùng đường tiết niệu. Những nghiên cứu gần đây cho thấy loại quả này còn giúp cải thiện sức khỏe tim mạch, ngăn ngừa bệnh ung thư, tăng cường sức khỏe tim mạch và giảm nhiễm trùng.

clip_image002

Qủa nam việt quất. Ảnh: thevedix

4. Việt quất

Với mức độ cao chất chống oxy hóa, vitamin và khoáng chất, quả việt quất mang lại nhiều lợi ích sức khỏe cho tim mạch, phòng chống ung thư, tăng cường chức năng não bộ và cải thiện thị lực.

Một số nghiên cứu cho thấy các chất chống oxy hóa trong quả việt quất có thể giúp làm chậm quá trình lão hóa - một sự thay thế hữu ích hơn tất cả những loại kem chống lão hóa.

5. Hạt Chia

 image001

 

Hạt Chia cũng là một nguồn omega-3 và canxi tuyệt vời. Ảnh: chiaseedspot.

Loại hạt này có lượng tiêu thụ tăng nhanh trong vài năm qua nhờ mức độ cao các chất dinh dưỡng và lượng calo thấp. Bên cạnh chất chống oxy hóa, chất xơ hòa tan và khoáng chất, hạt Chia cũng là một nguồn omega-3 và canxi tuyệt vời.

 

Lê Phương (Theo Healthowealth)

03/06/2015

CÂU KỶ TỬ

 

Tên Việt Nam:

Kỷ tử, Câu khởi, Khởi tử, Địa cốt tử, Khủ khởi.

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcTác dụng:

+ Bổ ích tinh huyết, cường thịnh âm đạo (Bản Thảo Kinh Tập Chú).

+ Bổ ích tinh bất túc,  minh mục, an thần (Dược Tính Bản Thảo).

+ Trừ phong, bổ ích gân cốt,  khử hư lao (Thực Liệu Bản Thảo).

+ Tư thận, nhuận phế (Bản Thảo Cương Mục).

+ Chuyên bổ thận, nhuận phế, sinh tân, ích khí, là thuốc chủ yếu bổ can thận chân âm bất túc, là thuốc tốt để ích tinh,  minh mụ c... (Bản Thảo Kinh Sơ)

+ Kỷ tử có tác dụng tư bổ can thận, sinh tinh huyết, minh mục, nhuận phế (Trung Dược Học).

+ Tư dưỡng Can Thận (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcChủ trị:

+ Trị  xoay xẫm, chóng mặt do huyết hư, thắt lưng đau, Di tinh, tiểu đường  (Trung Dược Học).

+ Trị các chứng can thận âm hư, âm huyết hư tổn, chứng tiêu khát, hư lao, khái thấu (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcLiều dùng: 8 – 20g.

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcKiêng kỵ:

+ Câu kỷ tử có tính chất nê trệ, vì vậy,  thận trọng đối với những bênh nhân tỳ vị hư yếu, tiêu chảy kéo dài (Trung Dược Học).

+ Tỳ vị suy nhược, tỳ hư thấp trệ tiêu chảy cấm dùng, có ngoại tà thực nhiệt cấm dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sá

TÌM HIỂU SÂU THÊM VỀ CÂU KỶ TỬ

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcTên Hán Việt khác:

Vị thuốc câu KỶ TỬ CÒN GỌI Cẩu kế tử (Nhĩ Nhã), Cẩu cúc tử (Bản Thảo Diễn Nghĩa), Khổ kỷ tử (Thi Sơ), Điềm thái tử (Bản Thảo Đồ Kinh), Thiên tinh tử (Bảo Phát), Địa cốt tử, Địa tiết tử (Bản Kinh), Địa tiên tử (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Khước lão tử, Dương nhủ tử, Tiên nhân trượng tử, Tây vương mẫu trượng tử, Cẩu kỵ tử, (Biệt Lục), Xích bảo, Linh bàng tử, Nhị thi lục, Tam thi lục, Thạch nạp cương, Thanh tinh tử, Minh nhãn thảo tử, Tuyết áp san hô (Hòa Hán Dược Khảo).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcTên khoa học:

Fructus Lycii.

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcHọ khoa học:

Thuộc họ Cà (Solanaceae).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcMô tả:

Là cây bụi mọc đứng, phân cành nhiều, cao 0,5-1,5m. Cành mảnh, thỉnh thoảng có gai ngắn mọc ở kẽ lá. Lá nguyên nhẵn, mọc cách, một số mọc vòng, cuống lá ngắn, phiến lá hình mũi mác, hẹp đầu ở gốc. Hoa nhỏ mọc đơn độc ở kẽ lá hoặc có một số hoa mọc chụm lại. Đài nhẵn, hình chuông, có 3-4 thùy hình trái xoan nhọn, xẻ đến tận giữa ống. Tràng màu tím đỏ, hình phễu, chia 5 thùy hình trái xoan tù, có lông ở mép. Nhị 5, chỉ nhị hình chỉ đính ở đỉnh của ống tràng, dài hơn tràng. Bầu có 2 ô, vòi nhụy nhẵn dài bằng nhụy, đầu nhụy chẻ đôi. Quả mọng hình trứng, khi chín màu đỏ sầm, hoặc vàng đỏ. Hạt nhiều hình thân dẹp. Ra hoa từ tháng 6-9, có quả từ tháng 7-10.

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcĐịa lý:

Có nhiều ở Trung Quốc nước ta còn phải nhập, có ở các tỉnh biên giới Việt Nam như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam.

Phần dùng làm thuốc: Dùng quả khô rụng (Fructus Lycii).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcMô tả dược liệu:

Quả khô Câu kỷ tử hình bầu dục dài khoảng 0,5-1cm, đường kính khoảng hơn 0,2cm. Vỏ quả màu tím đỏ hoặc đỏ tươi, mặt ngoài nhăn teo bên trong có nhiều hạt hình tạng thận màu vàng, có một đầu có vết của cuống quả, không mùi, vị ngọt hơi chua, sau khi nếm nước bọt có màu vàng hồng. Loại sản xuất ở Cam túc có quả tròn dài, hạt ít, vị ngọt là loại tốt nhất nên gọi là Cam kỷ tử hay Cam câu kỷ (Dược Tài Học).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcThu hái, sơ chế:

Hái quả hàng năm vào tháng 8-9, phơi khô. Khi quả chín đỏ hái vào sáng sớm hoặc chiều mát, trải mỏng, phơi trong râm mát cho đến khi bắt đầu nhăn mới phơi chỗ nắng nhiều cho đến khi thật khô.

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcBào chế:

+ Lựa thứ quả đỏ tươi, tẩm rượu vừa đều để một hôm, gĩa dập dùng.

+ Thường dùng sống, có khi tẩm rượu sấy khô, hoặc tẩm mật rồi sắc lấy nước đặc, sấy nhẹ cho khô, đem tán bột mịn.

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcBảo quản:

Đựng vào lọ kín để nơi khô ráo, nếu bị thâm đen đem xông diêm sinh hoặc phun rượu, xóc lên sẽ trở lại màu đỏ đẹp

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốchành phần hóa học:

+ Thành phần chủ yếu có Betain, nhiều loại axit amin, polysaccharid, vltamin B1, B2, C, acid nicotinic, Ca, P, Fe.. . (Trung Dược Học).

+Trong Kỷ tử có chừng 0,09% chất Betain (C5H11O2N) (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trong 100g quả có 3,96mg Caroten, 150mg Canxi, 6,7mg P, 3,4mg sắt, 3mg Vit C, 1, 7mg axit nicotic, 0,23mg Amon sunfat (Từ Quốc Quân và Triệu Thủ Huấn)

+ Trong Khởi tử có Lysin, Cholin, Betain, 2,2% chất béo và 4,6% chất Protein, Acid cyanhydric và có thể có Atropin (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

+ Carotene, Thiameme, Riboflavin, Vitamin C, b-Sitosterol, Linoleic acid (Chinese Herbal Medicine).

+ Betain  (Nishiyama R, C A 1965, 63 (4): 4660).

+ Valine, Glutamine, Asparagine (Nishiyama R, C A 1963, 59 (11): 13113b).

+ Trong 100g Câu kỷ tử có Carotene 3,39mg, Thiamine 0,23g, Riboflavine 0,33mg, Nicotinic acid 1,7mg, Vitamin C 3mg  (Từ Quốc Quân, Dược Tài Học, Bắc Kinh 1960: 513).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcTác dụng dược lý:

1. Thuốc có tác dụng tăng cường miễn dịch không đặc hiệu. Trên súc vật thực nghiệm có tác dụng tàng cường khả năng thực bào của hệ lưới nội mô, kết quả nghiên cứu gần đây cho biết Kỷ tử có tác dụng nâng cao khả năng thực bào của tế bào đại thực bào, tăng hoạt lực của enzym dung khuẩn của huyết thanh, tăng số lượng và hiệu giá kháng thể, chứng tỏ Kỷ tử có tác dụng tăng cường tính miễn dịch của cơ thể, thành phần có tác dụng là Polysaccharide Kỷ tử (Trung Dược Học).

2. Thuốc có tác dụng tăng cường chức năng tạo máu của chuột nhắt (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Chất Betain là chất kích thích sinh vật, cho vào thức ăn cho gà ăn có tác dụng tăng trọng và đẻ trứng nhiều hơn, cũng làm cho chuột nhắt tăng trọng rõ (Trung Dược Học).

+ Thuốc có tác dụng hạ Cholesterol của chuột cống, chất Betain của thuốc có tác dụng bảo vệ gan chống thoái hóa mỡ, hạ đường huyết (Trung Dược Học).

+ Chất chiết xuất nước của thuốc có tác dụng hạ huyết áp ức chế tim, hưng phấn ruột (tác dụng như Cholin). Chất Betain không có tác dụng này (Trung Dược Học).

6. Nước sắc Kỷ tử có tác dụng hưng phấn tử cung cô lập của thỏ (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Thuốc có tác dụng ức chế ung thư đối với chuột nhắt S180. Các học giả Nhật Bản có báo cáo năm 1979 là lá và quả Kỷ tử có tác dụng ức chế tế bào ung thư trong ống nghiệm (Trung Dược Học).

+ Các tác giả Trung Quốc trên thực nghiệm cũng phát hiện thuốc (lá, quả và cuống quả của Kỷ tử  (vùng Ninh Hạ) có tác dụng ức chế ở mức độ khác nhau hai loại tế bào ung thư  ở người (Trung Dược Học).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcTính vị:

+ Tính hơi hàn, không độc (Danh Y Biệt Lục).

+ Vị ngọt, tính bình (Dược Tính Bản Thảo).

+ Vị hàn, không độc (Thực Liệu Bản Thảo).

+ Vị ngọt, tính bình (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Vị ngọt, tính bình (Trung Dược Học).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcQui kinh:

+ Vào kinh túc Thiếu âm Thận, túc Quyết âm Can (Bản Thảo Hối Ngôn).

+ Vào kinh túc thiếu âm Thận, thủ Thiếu âm tâm (Bản Thảo Kinh Giải).

+ Vào kinh Can, Thận, Phế (Trung Dược Học).

+ Vào kinh Can, Thận (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcĐơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị mắt đỏ, mắt sinh mộc thịt: Câu kỷ gĩa nát lấy nước, điểm 3-4 lần vào khóe mắt,  rất hiệu nghiệm (Trửu Hậu Phương).

+ Trị mặt nám, da mặt sần sùi: Câu kỷ 10 cân, Sinh địa 3 cân, tán bột, uống 1 muỗng với rượu nóng, ngày uống 3 lần, uống lâu da đẹp như con nít (Thánh Huệ Phương).

+ Trị chảy nước mắt do Can hư: Câu kỷ tử 960g bọc trong túi lụa ngâm trong rượu, đậy thật kín, 21 ngày sau uống (Long Mộc Luận).

+ Trị Can Thận âm hư, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, mắt mờ, hoa mắt, hoặc đau rít sáp trong mắt:  Câu kỷ tử, Cúc hoa mỗi thứ 12g, Thục địa 16g, Sơn dược mỗi thứ 8g, Phục linh, Đơn bì, Trạch tả mỗi thứ 6g. Tán bột trộn làm viên. Mỗi lần uống 12g ngày 2 lần, với nước muối nhạt (Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).

+ Trị suy nhược vào mùa hè, không chịu nổi với thời tiết: Câu kỷ tử, Ngũ vị tử, tán bột pha nước sôi uống thay trà (Nhiếp Sinh Chúng Diệu Phương).

+ Trị suy nhược, thận hư, hoa mắt, mắt mộng thịt:  Cam câu kỷ tử 1 cân, ngâm cho thấm với rượu ngon rồi chia làm 4 phần, 1 phần sao với 40g Thục tiêu, 1 phần sao với 40g Tiểu hồi hương, 1 phần sao với 40g Chi ma (mè), 1 phần sao với Câu kỷ không thôi. Thêm Thục địa, Bạch truật, Bạch phục linh mỗi thứ 40g, tán bột, luyện mật làm viên uống hằng ngày (Tứ Thần Hoàn - Thụy Trúc Đường Kinh Nghiệm Phương).

+ Trị gan viêm mạn tính, gan xơ do âm hư: Bắc sa sâm 12g, Mạch môn 12g, Đưung qui 12g, Kỷ tử 12-24g, Sinh địa 24-40g, Xuyên luyện tử 6g, sắc nước uống (Nhất Quán Tiễn - Liễu Châu Y Thoại)

+ Trị suy nhược, thận hư, lưng đau, gối mỏi, Di tinh, huyết trắng nhiều: Thục địa 320g, Sơn dược (sao) 160g, Câu kỷ tử 160g, Sơn thù nhục 160g, Ngưu tất 120g, Thỏ ty tử 160g, Lộc giao (sao) 160g, Quy bản (sao) 160g, tán bột, trộn mật làm hoàn. Mỗi lần uống 12-16g, ngày 2-3 lần (Tả Quy Hoàn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).

+ Trị hoa mắt, thị lực giảm sút, cườm mắt tuổi gìa, thủy tinh thể dục:  Thục địa 320g, Sơn thù 1690, Sơn dược 160g, Đơn bì 80g, Trạch tả 80g, Phục linh 80g, Cúc hoa 120g, Câu kỷ tử 120g. Tán bột, trộn với mật làm hoàn, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 10-12g (Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn - Y Cấp) .

+ Câu kỷ tử, Thục địa, Ngũ vị tử, Mạch môn đông, Địa cốt bì, Thanh hoa, Miết giáp, Ngưu tất trị âm hư lao nhiệt nóng bức rứt âm ỉ trong xương, hoặc muốn dùng làm thuốc chính để trị phát sốt, lạnh thì thêm Thiên môn đông, Bách bộ, Tỳ bà diệp, có thể trị được cả chứng ho do âm hư, phế nhiệt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). 

+ Câu kỷ tử, hái những quả chín đỏ hằng ngày, tẩm giấm, rượu,rồi lấy giấy sáp phong niêm kín lại đừng làm cho bay hơi đủ hai tháng đổ vào chậu khuấy nhừ nát lọc lấy nước rồi ngâm với rượu. Sau đó cho vào nồi bạc nấu lửa liu riu nhỏ, đồng thời quấy luôn để khỏi dính và đều cho tới khi thành cao như Mạch nha, cuối cùng bỏ vào bình sạch đậy kỹ, mỗi buổi sáng uống mỗi lần 2 muỗng canh lớn, trước khi đi ngủ, liên tục trong 100 ngày mới thấy mạnh khỏe (Kim Tủy Tiễn - Kinh Nghiệm Phương).

+ Câu kỷ tử 2 thăng, vào ngày Nhâm quý tháng 10 giờ Dần, đứng quay về hướng đông mà hái rồi lấy rượu tốt 2 thăng ngâm trong bình sứ 21 ngày xong cho vào 3 thăng nước cốt Sinh địa trộn đều, niêm lại cho thật kín, Đến ngày 30 trước tiết Lập xuân mở bình, uống một chén hâm nóng lúc bụng đói, đến sau tiết lập xuân râu tóc bạc thì cũng biến thành đen. Cấm ăn hành, tỏi, su hào (Câu Kỷ Tử - Kinh nghiệm phương).

+ Trị hoa mắt, thị lực giảm sút, cườm mắt tuổi gìa, thủy tinh thể dục: Cúc hoa 8g,  Kỷ tử 20g, Nhục thung dung 12g, Ba kích thiên 8g, sắc nước uống (Cúc Thanh Thang - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị nam giới sinh  dục suy yếu (vô sinh): Mỗi tối nhai 15g Câu kỷ tử, liên tục 1 tháng, thường sau khi tinh dịch trở lại bình thường, uống thêm 1 tháng. Trong thời gian uống thuốc, kiêng phòng dục. Đã trị 42 ca, sau 1 liệu trình: hồi phục bình thường 23 ca, sau 2 tháng bình thường 10 ca, có 6 ca không có kết quả vì không có tinh trùng, 3 ca không kết quả, theo dõi sau 2 năm, tinh dịch trở lại bình thường, 3 ca đã có con (Đông Đức Vệ và cộng sự, ‘Kỷ Tử Trị vô sinh Nam Giới’, Tân Trung Tạp Chí 1987, 2: 92)

+ Trị dạ dầy viêm teo mạn  tính:  Dùng Kỷ tử rửa sạch, sao khô, giă nát, đóng gói. Mỗi ngày uống 20g, chia làm 2 lần lúc bụng đói và nhai uống, 2 tháng là một liệu trình. Trong thời gian uống thuốc, ngưng tất cả các loại thuốc khác. Đã trị 20 ca, theo dõi 2- 4 tháng, có kết quả tốt 15 ca, có kết quả 5 ca (Trần Thiệu Dung và cộng sự, ‘Báo Cáo 20 Ca Dạ Dầy Viêm Teo Mạn Tính Điều Trị Bằng Câu Kỷ Tử,’ Trung Y Tạp Chí 1987, 2: 92).

+ Trị  thận hư, tinh thiếu, lưng đau, vùng thắt lưng đau mỏi: Câu kỷ tử, Hoàng tinh, 2 vị bằng nhau, tán bột, luyện mật làm viên, mỗi lần 12g, ngày uống 2 lần với nước nóng (Câu Kỷ Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)..

+ Trị Can hư sinh ra bệnh ở mắt, ra gió chảy nước mắt: Câu kỷ tử, dùng rượu ngâm sau 3-7 ngày, mỗi lần uống 1-2 muỗng canh, ngày 2 lần (Câu Kỷ Tửu - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcTham khảo:

+ Câu kỷ tử có tác dụng bổ tinh khí, bổ suy nhược làm cho người xinh tươi hồng hào, sáng rõ tai mắt, yên thần định chí sống lâu (Bản Thảo Dược Tính).

+ Câu kỷ tử làm cứng mạnh gân xương, sống dai lâu gìa, trừ phòng phong bệnh bổ hư lao, ích tinh khí (Thực Liệu Bản Thảo).

+ Câu kỷ tử chữa được những bệnh ở tim, ọe khan đau tim, đau họng khát nước vì thận có bệnh cho nên hay làm nên chứng tiêu khát (Thang Dịch Bản Thảo).

+ Câu kỷ tử có tính giúp cho thận, nhuận được phế, dùng nó ép lấy dầu thắp sáng đèn làm sáng mắt (Bản Thảo Cương Mục).

+ Câu kỷ tử có vị cay vừa, khí ấm vừa và mát, tính có thể lên xuống được, vị nặng nên hay bổ âm nhưng tính của nó là âm trong có dương nên cổ được khí. Xét cho đúng thì nó chỉ xét cho dương một phần nào thôi, chứ không có tính cách kích động nên những người biết dùng thì dùng để tiếp thêm sức cho Thục địa là đúng. Còn vấn đề công dụng của nó thì có thể làm cho thông minh tai mắt, yên ổn tâm thần tăng thêm tinh tủy, cứng mạnh gân xương, bù đắp vào những chỗ bất túc nhất là lao thương quá độ. Vì vậy khi mà thận khí đã đầy đủ thì chứng tiêu khát không còn nữa, còn những người bị chân âm suy tổn mà đau ở sau lưng dưới rốn, mê man dùng nó thì công hiệu (Cảnh Nhạc Toàn Thư).

+ Câu kỷ tử có vị ngọt tính bình là vị thuốc chính của Thận, vì vậy mà bổ Thận ích tinh, khi Thận thủy đã mạnh thì gân xương rắn chắc vững vàng nên chứng tiêu khát lui cả, còn những chứng mắt mờ, tai điếc, lưng đau, chân yếu cũng theo đó mà biến mất (Bản Thảo Thông Nguyên).

+ Đi xa ngàn dặm thì không nên dùng Câu kỷ tử vì nó bổ thận quá cho nên kích thích đến tình dục, nó có khí bình không nóng, nó có tác dụng bổ thận chế hỏa, công hiệu như Thục địa nhưng chỉ tiếc khí nóng bứt rứt trong xương muốn trừ nó mà chưa từng dùng được (Danh Y Biệt Lục).

+ Câu kỷ tử vị ngọt mát tính nhuận, các sách ghi rằng có tác dụng khu phong, minh mục, mạnh gân xương, bổ tinh, tráng dương. Xét đúng ra thì Thận thủy suy thiếu uống vào có tính cam nhuận thì âm phải theo dương mà sinh trưởng. Khi Thận thủy đã đầy đủ thì tự nhiên phong sẽ bị tán ngay, vì thế nó có tác dụng làm sáng được tai mắt, cứng xương, mạnh gân. Đó lại càng chứng minh rằng Câu kỷ tử là một vị thuốc tư thủy, do đó mà các sách đều cho rằng nó có tác dụng chữa được tiêu khát. Ngày nay thấy nó sắc đỏ mà tưởng lầm là thuốc bổ dương thì quá sai lầm. Tại sao không biết rằng những thứ đã gọi là khí hàn thì có bao giờ mà bổ dương được? Nếu cứ cho sắc đỏ đó là bổ dương thì Hồng hoa, Tử thảo thì sắc nó cũng đỏ mà có ai quả quyết là thuốc bổ dương đâu, có kẻ lại cho rằng tính nó hoạt huyết. Than ôi! đạo làm thầy thuốc mà không rành, chỉ hạn hẹp trong mấy cuốn sách, nghĩ quẩn quanh, cái gì còn hồ nghi phải gắng sức nghiên cứu cho tới đầu tới đuôi. Nói chung quy chỉ vì xem sách không tinh, định câu không rõ nghĩa không thể nhận xét mà lý hội cho đến cùng, chỉ biết một đoạn nào đó thì biết làm sao được! Chẳng hạn những bệnh thuộc hư hàn mà dám dùng nó thì chuyện xảy ra chẳng những không thể bổ được phần dương mà hư lại càng hư thêm rồi sinh ra những chứng tiêu chảy không cầm được, có khi tới chết. Đó chính là sai một ly đi một dặm nó biến chuyển nhanh như thế, sao lại cho rằng dùng thuốc không cần cẩn thận lắm cũng được vậy mà? (Bản Thảo Cầu Chân).

+ Câu tử có vị ngọt đắng tính lạnh, nhập vào kinh Can và Thận, có tác dụng bổ âm tráng thủy, tưới nhuần được cho Can, thanh trừ được phong độc. Nhờ được tính đắng mát cho nên Tỳ dễ tiết, với những dạng người có bệnh Tỳ thổ khô táo, táo bón mới nên dùng nó; Với nhưng người có thủy hàn khô thấp, trường vị hoạt tiết, tiêu lỏng, tiêu sệt luôn thì không nên dùng nó vì có thể sinh ra tiêu chảy. Nếu ai gọi nó là thuốc trợ dương khí là sai hoàn toàn (Trường Sa Dược Giải).

+ Dùng với Thục địa là rất hay, thuốc làm sáng mắt,  thính tai, ích tinh, cố tủy, kiện cốt, cường cân, chuyên bổ lao thương, chỉ tiêu khát, chân âm hư mà bụng rốn đau không khỏi, dùng nhiều rất hay (Cảnh Nhạc Toàn Thư').

+ Câu kỷ tử chuyên bổ huyết, không thuốc nào hơn (Trùng Khánh Đường Tùy Bút).

+ Câu kỷ tử cảm khí xuân hàn của trời, lại được cả khí xung hòa của đất để sinh ra, vị nó ngọt, tính bình cho nên là vị thuốc chính có công năng chuyên bổ cho chân âm của Can và Thận. Họ Đào nói: Xa nhà ngàn dặm chớ ăn Câu kỷ tử, ý nói sức cường dương của nó đó thôi (Dược Phẩm Vậng Yếu).

+ Chu Nhụ Tử trông thấy bên chỗ khe suối có hai bụi rậm hoa xanh tươi trông rất đẹp, bỗng thấy một chó lớn đuổi một con chó nhỏ phóng vào bụi hoa gần ngay gốc cây Kỷ tử. Họ trông thấy vậy nhưng không biết nó biến đi đâu, liền cùng nhau đào ở gốc cây Kỷ tử thì thấy ở gốc có hai cái rễ lớn nhỏ như hai con chó nằm gọn ở đó, họ bèn đem về nấu ăn, tự nhiên thấy khỏe, khoan khoái trong người. Ông nói đó là cây Kỷ tử của tiên trồng có hơn cả ngàn năm nên mới hóa hình con chó (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). 

+  Tục truyền ngày xưa cây này mùa xuân gọi là Thiên tinh tử, mùa hè gọi là Câu kỷ diệp, mùa thu gọi là Khước lão, mùa đông gọi là Địa cốt bì (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). 

+ Câu kỷ tử còn cho lá và ngọn gọi là Câu kỷ hành diệp, có vị đắng, tính lạnh, không độc, thường nấu với thịt dê ăn bổ, có tác dụng trừ phong, sáng mắt. Có thể thay trà để uống, công dụng chỉ khát, hết bứt rứt, nóng nảy, bổ sinh dục, giải độc của miến. Nó rất ghét sữa tô. Lấy nước cốt của nó nhỏ vào mắt có tác dụng trừ mộng thịt ở mắt, màng đỏ ở mắt, choáng váng, hoa mắt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). 

+ Cây còn cho mầm gọi là Câu kỷ miêu có vị đắng tính lạnh, có tác dụng trừ phiền, ích chí, khu phong, minh mục, tiêu nhiệt độc, tán sang thủy (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). 

+ Dùng hạt Câu kỷ tử loại ở Cam châu nấu chín, gĩa nát, trộn với men gạo hoặc lấy hạt Câu kỷ cùng với Sinh địa hoàng chế thành rượu uống gọi là rượu Câu kỷ (Câu Kỷ Tửu). Dùng hạt Câu kỷ trộn gạo nấu cháo có tác dụng bổ tinh huyết, ích thận khí, thiếu huyết, thận suy dùng rất tốt gọi là Câu kỷ tử chúc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). 

+ Loại Câu kỷ ở Cam châu, Trung Quốc có màu đỏ thịt dẻo, ít hột là thứ tốt nhất (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Câu kỷ, hột của nó gọi là Câu kỷ tử, rễ gọi là Địa cốt bì. Rễ có vị đắng hơn, tính hàn hơn, còn hột thì ngọt nhiều, đắng ít. Công dụng của hai thứ này có khác nhau. Câu kỷ tử là thuốc tư bổ Thận âm, Địa cốt bì là thuốc trị chứng nóng âm ỉ trong xương (Đông Dược Học Thiết Yếu).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcPhân biệt:

(1) Ở Việt Nam không có loại Lycium chinensis Miller, mà có cây Câu kỷ (Lycium ruthanicum Murray) cùng họ trên đó là cây cỏ, cành có gai. Lá nguyên mọc so le. Hoa tím nhạt mọc ở kẽ lá. Quả hình trứng thuôn, khi chín màu đỏ, có nhiều hạt. Cây được trồng nhiều nơi làm rau ăn và làm thuốc. Trồng bằng cành hoặc hạt vào mùa xuân, chỉ dùng lá nấu canh và chữa ho. Có khi quả chín đỏ được dùng thay thế Khởi tử, Vỏ rễ làm Địa cốt bì, không đúng với cây trên, cần phải nghiên cứu lại.

(2) Vị này cho vỏ rễ của cây (Cortex lycii Chinensis) gọi là Địa cốt bì (Danh Từ Dược Học Đông Y).

Vì sao củ cải đường tốt cho sức khỏe

kỹ thuật trồng củ cải đường

Uống nước ép củ cải đường sẽ tốt hơn so với nấu chín vì các chất dinh dưỡng có thể mất đi trong quá trình nấu. Củ cải đường được liệt kê trong phần siêu thực phẩm vì nó mang lại nhiều lợi ích sức khỏe. Củ cải đường khiến bạn có làn da đẹp, khỏe mạnh và còn giúp phòng chống nhiều loại bệnh tật.

 

1. Tăng sức bền

Nước ép củ cải đường mang lại nhiều lợi ích khi tập thể dục. Uống nước ép củ cải trước khi tập thể dục không chỉ cung cấp cho bạn năng lượng cần thiết để thực hiện các bài tập mà còn giúp bạn tập thể dục được lâu hơn.

2. Giảm huyết áp

Nước ép củ cải đường có chứa nhiều nitrat-một chất hóa học tự nhiên. Khi uống nước ép củ cải đường nitrat trải qua một phản ứng hóa học biến thành oxit nitric giúp cải thiện lưu lượng máu trong cơ thể và làm giảm huyết áp.

3. Tăng cường hệ thống miễn dịch

Củ cải đường có chứa nhiều folate và kali. Đây là những chất làm tăng cường hoạt động của hệ thống miễn dịch và rất có lợi cho sức khỏe. Các chất xơ trong nước ép củ cải cũng giúp bạn tiêu hóa và làm sạch dạ dày, tránh các độc tố. Nước củ cải đường rất tốt cho những người muốn cai nghiện.

4. Bảo vệ gan

Nước ép củ cải đường từ lâu đã được sử dụng như một phương thuốc chữa bệnh gan. Nó chủ yếu giúp giải độc trong máu, làm tăng lưu lượng máu và giúp gan hoạt động tốt hơn.

5. Giảm lượng cholesterol

Nước ép củ cải đường rất giàu chất chống oxy hóa, chứa nhiều nước giúp giảm mức cholesterol và giữ cho bạn luôn khỏe mạnh.

Lưu ý:

- Không nên lạm dụng nước ép củ cải

- Khi uống nước ép củ cải đường, nước tiểu và phân sẽ có màu đỏ nhạt. Điều này là do màu tự nhiên của loại củ này, bạn không nên lo lắng về nó. Nó là một dấu hiệu tốt cho biết rằng tất cả các độc tố được thoát ra và hệ thống tiết niệu của bạn đang hoạt động tốt.

An Nhiên

Theo Magfor

  • Kĩ thuật trồng bí đỏ

    Cây bí đỏ Tên khoa học: Cucurbita pepo Cucurbita moschata Họ bầu bí: Cucurbitaceae Bí đỏ có nguồn gốc Trung Mỹ, gồm 25 loài nhưng phổ b...

  • Chiếc thùng bị nứt

    Xưa, có người dùng hai cái thùng gỗ lớn để gánh nước. Theo thời gian, một trong hai cái bị nứt, vì vậy khi gánh nước từ giếng về thì chỉ cò...

  • Món salad mơ thịt lợn

    Cùng khám phá món xà lách hấp dẫn cho buổi tối mùa hè nóng bức với thịt lợn nướng mức mơ . Thông tin dinh dưỡng ...

  • Trà kỷ tử - vị thuốc chữa nhiều bệnh

     

    Quả kỷ tử.

    Tương truyền, vào đời Đường, tể tướng Phòng Huyền Linh vì dụng tâm quá độ giúp Đường Thái Tông cai quản triều chính nên tinh thần luôn bất an, cơ thể mỏi mệt. Nhờ được thái y cho dùng canh kỷ tử nấu với mộc nhĩ trắng thường xuyên mà sức khỏe và tinh thần của ông dần phục hồi.

    Kỷ tử là quả chín phơi hay sấy khô của cây khởi tử, tên khoa học là Lycium barbarum L. Thời cổ đại, nó còn được gọi bằng các tên như thiên tinh (tinh của trời), địa tiên (tiên của đất), khước lão (đẩy lui tuổi già). Chỉ cần mỗi ngày lấy 15 g kỷ tử hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15-20 phút là ta đã có được một thứ nước màu đỏ đẹp, thơm ngon, vừa có tác dụng giải khát thay trà lại vừa có công năng bổ thận, ích tinh và dưỡng can, minh mục. Loại trà này thường được cổ nhân dùng để bồi bổ cơ thể và phòng chống tích cực các chứng bệnh như suy nhược toàn thân sau bệnh nặng, đầu choáng mắt hoa, giảm thị lực, lưng đau gối mỏi, nhược dương, di mộng tinh, xuất tinh sớm, muộn con...

    Tại Trung Quốc, kỷ tử phân bố ở nhiều nơi nhưng loại được trồng ở Ninh Hạ có chất lượng cao hơn cả. Ở đây, người ta gọi vị thuốc này là "minh mục tử", có nghĩa là thứ quả làm sáng mắt. Truyền thuyết kể lại rằng, ngày xưa ở Ninh An thuộc tỉnh Ninh Hạ có một cô gái tên là Cẩu Hồng Quả. Cha cô không may mất sớm, vì quá thương nhớ chồng, mẹ cô khóc nhiều đến nỗi cả hai con mắt bị bệnh không nhìn thấy gì cả. Để chữa bệnh cho mẹ, Cẩu Hồng Quả đã không quản gian lao khó nhọc, ngày đêm trèo đèo lội suối lên tận Nam Sơn hái thuốc. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của cô, tiên ông Bạch Hồ Tử đã hiện ra và chỉ dẫn Cẩu Hồng Quả thu hái kỷ tử về làm thuốc cho mẹ cô uống. Quả nhiên, sau một thời gian dùng thuốc, mắt mẹ cô ngày càng sáng ra và khỏi hẳn. Vì thế, dân trong vùng gọi thảo dược này là "minh mục tử" và coi đó là thứ "linh đan diệu dược" chuyên chữa bệnh về mắt.
    Theo dược học cổ truyền, kỷ tử vị ngọt, tính bình, có công dụng tư bổ can thận, dưỡng huyết, minh mục và nhuận phế. Nếu can thận âm hư thì tinh và huyết đều thiếu, không thể nuôi dưỡng mắt đầy đủ được, phát sinh chứng hoa mắt, mắt mờ, thị lực giảm sút... Kỷ tử là vị thuốc vào được cả kinh can và thận, một mặt bổ ích thận tinh, một mặt bổ dưỡng can huyết nên có thể chữa được các chứng bệnh như đầu choáng, mắt hoa, nhìn mờ, tai ù, tai điếc, lưng đau, gối mỏi, di tinh, liệt dương...
    Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, kỷ tử là một trong những vị thuốc có tác dụng dược lý rất phong phú:

    - Cải thiện và điều tiết công năng miễn dịch của cơ thể.

    - Nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống nội tiết Hạ khâu não - Tuyến yên - Tuyến thượng thận.

    - Bảo vệ tế bào gan, ức chế sự lắng đọng chất mỡ trong gan, thúc đẩy quá trình tái sinh của tế bào gan.

    - Điều chỉnh rối loạn lipid máu, làm hạ cholesterol và làm chậm sự hình thành các mảng vữa xơ trong huyết quản.

    - Hạ đường huyết.

    - Làm giãn mạch và hạ huyết áp.

    - Thúc đẩy quá trình tạo huyết của tủy xương.

    - Chống ôxy hóa và làm chậm sự lão hóa.

    - Nâng cao sức chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu ôxy, phòng chống tích cực trạng thái mệt mỏi.

    - Chống phóng xạ và ức chế sự phát triển của tế bào ung thư...

    Để nâng cao tác dụng của trà kỷ tử, tùy theo thể chất và chứng trạng cụ thể, người ta thường thêm một số vị thuốc khác như: cúc hoa (để làm sáng mắt và chữa đau đầu, chóng mặt), mạch môn và ngũ vị tử (cải thiện trí nhớ và làm cho tinh thần tỉnh táo), thảo quyết minh, đan sâm và hà thủ ô (bổ can thận và làm hạ mỡ máu), đương quy và đại táo (dưỡng huyết, làm tăng hồng cầu trong máu ngoại vi), toan táo nhân và ngũ vị tử (dưỡng tâm, an thần), đông trùng hạ thảo (để bổ thận trợ dương)...

    ThS Hoàng Khánh Toàn, Sức Khỏe & Đời Sống