20/12/2015

Kỹ thuật trồng củ cải đường

Củ cải đường cũng như rau dền đỏ là một trong những nguồn cung cấp nhiều folate và betaine nhất. Hai chất này giúp làm giảm lượng homcysteine (một loại amino axit có thể gây ra các bệnh tim mạch) trong máu. Thêm vào đó, củ cải đường còn chứa betacyanins giúp ngăn ngừa bệnh ung thư.

Mùa vụ :

  • kỹ thuật trồng củ cải đường Vụ sớm: gieo tháng 7 đến tháng 8, thu từ tháng 8 đến tháng 10.
    Chính vụ: gieo cuối tháng 8 đến hết tháng 9, thu từ tháng 9 đến tháng 11
    Vụ muộn: gieo vào tháng 10, tháng 11 và thu hoạch từ tháng 11 đến tháng 12
    Trái vụ: từ tháng 4 đến tháng 6, vụ này cho năng suất thấp

Làm đất, bón phân

 
Bộ phận sử dụng chính của cải củ là do rễ phình to thành củ, vì vậy đất trồng phải tơi xốp, cao và thoát nước nhanh, đất cát pha hoặc đất thịt nhẹ. Đất phải xa khu công nghiệp, xa bệnh viện, nghĩa trang, xa nguồn nước thải và chất thải, đất được cày và phơi ải để hạn chế sâu bệnh. Lên luống rộng 1,2-1,4 mét, cao 30 cm, rãnh rộng 30 cm.
Mật độ khoảng cách: Có thể gieo đều trên mặt luống sau khi đã bón lót phân và san phẳng mặt luống. Để tiện lợi cho việc chăm sóc, bạn có thể rạch đều 3 hàng dọc trên mặt luống.
Khoảng cách: Hàng cách hàng 25-30 cm, cây cách cây 20 cm.
Lượng hạt gieo: 10 – 12 kg/ha (300 – 400g/sào). Hạt gieo xong được phủ bởi một lớp mùn hoặc trấu.
Phân bón như sau:
Phân chuồng ủ mục 10 – 15 tấn / ha hoặc phân hữu cơ vi sinh 2,5 – 3 tấn / ha.
Đạm urê 100 – 110 kg/ha. Nếu sử dụng phân bón lá sinh học, phun từ 2 đến 3 lần cách nhau 7-10 ngày/lần thì lượng đạm urê chỉ cần từ 40 – 60 kg/ha (2kg/sào).
Supe lân 300 kg/ha
Kali sunphat 80 kg/ha
Bón lót toàn bộ phân chuồng ủ mục hoặc phân hữu cơ vi sinh cùng với các loại phân trộn rải trên mặt luống hoặc bón theo rạch trước khi gieo.
Bón thúc số phân đạm và kali dùng tưới thúc vào 2 thời kỳ:
Lần 1: khi cây 3-4 lá thật, kết hợp tỉa và vun xới lần 1
Lần 2: khi cây phình củ, kết hợp tỉa và vun xới lần 2
Nếu sử dụng các loại phân bón lá sinh học cần tuân thủ chỉ dẫn của từng loại phân để xác định liều lượng cho thích hợp.

Chăm sóc củ cải đường

Vun xới tỉa cây: Cải củ là cây có thời gian sinh trưởng ngắn (45-55 ngày), vì vậy chỉ cần tỉa cây và vun xới 2 lần kết hợp bón thúc.
Tưới nước: Bạn nên luôn giữ ẩm mặt luống sau khi gieo để tạo điều kiện cho hạt nẩy mầm nhanh và đều. Tuỳ theo độ ẩm đất mà định số lần tưới sau khi cây mọc. Nguồn nước tốt nhất là giếng khoan hoặc nước sông, hồ không bị ô nhiễm.
Lần 1: khi cây 3-4 lá thật, nhặt cỏ, tỉa bỏ cây xấu và xới nhẹ
Lần 2: khi cây bắt đầu phình củ, tỉa định cây kết hợp với vun gốc
Phòng trừ sâu bệnh cho củ cải đường
Sau khi mọc mầm, củ cải đường thường bị bệnh lở cổ rễ, bạn có thể dùng Benlat C50WP 0,2 – 0,3% phun trực tiếp vào đất và cây. Khi cây lớn thường bị bệnh bọ nhảy, rệp, sâu xanh nên phải thực hiện triệt để các biện pháp phòng trừ tổng hợp nếu xuất hiện sâu, rệp … cần phun Sherpa 25 EC 0,2% hoặc BT.
Để đảm bảo an toàn, cần cách ly 10 – 15 ngày sau khi phun thuốc mới thu hoạch.
Khi bạn thu hoặc, tuỳ theo giống nhưng thường 45-50 ngày sau khi gieo là có thể thu hoạch. Thu hoạch muộn củ cải đường sẽ bấc và giảm chất lượng sản phẩm. Thu hoạch xong thì rửa sạch củ để khô ráo và xếp vào bao bì.
Nguồn : Farmvina

 


  • Hạt Giống Cỏ Catnip - Nepeta cataria

  • Hạt Giống Feverfew - Tanacetum parthenium

  • Hạt Giống Fenugreek Trigonella foenum-graecum














13/11/2015

Các loài hoa xinh đẹp ngát hương

Hoa tử đinh hương


Có mùi đặc trưng và dễ dàng để bảo dưỡng lại. Đối với loại cây này, chúng nở đẹp vào mùa xuân và mùa hè, nên đặt vào nơi có nhiều ánh nắng mặt trời vào buổi chiều và khu vực thoáng mát.Hoa Tử Đinh Hương tím tượng trưng cho tình yêu đầu tiên. 

Loài hoa này đặc biệt chỉ có 4 cánh và người ta tin rằng ai tìm thấy cánh hoa Đinh Hương 5 cánh sẽ tìm thấy tình yêu đích thực của mình.






Cây hoa nhài






Nhài hay còn gọi là lài (danh pháp khoa học: Jasminum sambac) sống ở Nam và Đông Nam Á.Nó là một loại cây bụi nhỏ có chiều cao 0,5 đến 3 m ,được trồng để lấy hoa thơm. Những bông hoa lài ta trắng tuyết nhưng pha lẫn chút vàng nhạt có đường kính khoảng 2.5 cm hoặc hơn. Hoa mọc trên cụm từ 3 – 12 hoa và có hương thơm nồng.Hoa được sử dụng để làm nước hoa và ướp trà. Nó là quốc hoa của Philippines, nơi mà nó được gọi là sampaguita. Nhài cũng là quốc hoa của Indonesia, nơi mà nó được gọi là melati putih. Tại Nam Á nó là quốc hoa của Pakistan và cũng là quốc hoa của Tunisia.


Oải hương Lavender




Xuất xứ từ các vùng núi Địa Trung Hải , oải hương được dùng nhiều làm mỹ phẩm, nước hoa .Mùi thơm dễ chịu của hoa oải hương còn có tác dụng xua đuỗi côn trùng gây hại.

Giống cây oải hương chịu hạn tốt và thích nhiều ánh sáng. Bạn cũng cần phải thường xuyên tỉa bỏ đầu hoa già để kích thích cây nảy nhiều chồi hoa hơn. Thậm chí cả những bông hoa đã tàn cũng vẫn tỏa hương, vì vậy bạn có thể gom chúng lại để ở bên giường cho giấc ngủ dễ chịu hơn.


Hương thảo Rosemary


Rosemary là một loại thảo dược phổ biến. Nó là một loài cây bụi thường xanh, mọc cao tới hơn 1 m,có mùi thơm, thích loại đất thoát nước tốt và lưu thông khí đầy đủ , chúng có thể phát triển mạnh trong nhà.

Cây hương thảo là thành viên của gia đình bạc hà, là bạn đồng hành tốt với các cây khác trong vườn do nó bảo vệ chúng khỏi sâu bệnh.

Cây hương thảo có khả năng làm giảm stress, đuổi muỗi, làm gia vị, chế biến mỹ phẩm.


Hoa kim ngân





Cũng giống như hoa nhài, kim ngân là loại cây leo có mùi hương mạnh.

Kim Ngân Hoa không chỉ là một loài hoa đẹp mà còn là một vị thuốc quý, được sử dụng rất lâu đời trong các bài thuốc trị mụn nhọt, mẩn ngứa, chống dị ứng trong viêm mũi dị ứng, phát ban, nổi mề đay, đặc biệt trị rôm sảy ở trẻ em rất hiệu quả.

Hoa dành dành


Dành dành còn có tên khác là chi tử, thuỷ hoàng chi, mác làng cương (Tày)...(danh pháp hai phần: Gardenia jasminoides Ellis, đồng nghĩa: G. augusta)



Cây ra hoa vào khoảng tháng 3-5, cho quả vào khoảng tháng 6-10.
Mùi hương của loài hoa này là rất đặc biệt . Bên cạnh đó, những bông hoa màu trắng đáng yêu sẽ tô điểm cho căn nhà của bạn.

Bạc hà


Bạc hà có vô số công dụng. Bạn có thể ăn lá, uống trà từ lá bạc hà, và điều hay nhất là nó rất dễ sống, chỉ cần bạn trồng chúng trong một chậu riêng. Chỉ cần lướt nhẹ bàn tay trên khóm bạc hà, chúng sẽ tỏa hương thơm ngát.

Có rất nhiều loại bạc hà khác nhau , bạn có thể tham khảo các loại sau đây.



Và còn rất nhiều loài hoa xinh đẹp ngát hương chờ bạn khám phá như: Hương Thảo Châu Âu , Hoa chuông Ái nhĩ Lan

31/10/2015

Thảo mộc trợ giúp nguồn sữa cho các bà mẹ sau khi sinh

Nhiều thảo dược dinh dưỡng có tác dụng tốt trong việc thúc đẩy tăng tiết nguồn sữa cho các bà mẹ sau khi sinh con.

Yến mạch

Yến mạch từ lâu đã được sử dụng như một loại thực phẩm lành mạnh cho các bà mẹ và trẻ em bởi chúng rất giàu vitamin và khoáng chất. Yến mạch còn đặc biệt cung cấp sinh lực và năng lượng cho mẹ sau sinh.

Hạt cỏ cà ri (methi) 

Hạt cỏ cà ri chứa nguồn vitamin lành mạnh cho bà mẹ cho con bú như chất béo Omega 3, betacaroten, vitamin B, sắt và canxi. Cỏ cà ri được coi là một liệu pháp tốt để kích thích sữa.
Cây tầm ma (Urtica dioica)
Loại thảo mộc này đặc biệt giàu dinh dưỡng, chứa các khoáng chất vi lượng và vitamin phong phú, đặc biệt là sắt, kali và silic. Nó được sử dụng để điều trị bệnh thiếu máu, suy nhược, căng thẳng, đồng thời ổn định lại lượng đường trong máu sau sinh.

Sâm Ấn Độ (Ashwagandha)

Thảo dược truyền thống trong y học cổ truyền của Ấn Độ và được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng người Mỹ khi muốn giảm căng thẳng. Nguồn Adaptogens (chất thích nghi) trong Sâm Ấn Độ nhẹ nhàng hỗ trợ hệ thống thượng thận, làm giảm kích thích thần kinh và hỗ trợ hệ thống miễn dịch. Sâm Ấn Độ thường được sử dụng như trà với một lượng nhỏ sữa và mật ong kèm theo.

Bạc hà mèo (Catnip)

Tinh chất giúp thư giãn nhẹ nhàng nhưng đáng tin cậy của loại thảo dược này giúp cho các bà mẹ hưng phấn thần kinh và thông qua sữa mẹ có thể giúp bé giảm đau bụng, đầy hơi, táo bón đặc biệt rất có lợi cho tiêu hóa của bé…

Cúc La Mã (Chamomile)

“Anh hùng” cho các bà mẹ sau sinh - 3
Loại thảo mộc này giúp mẹ thư giãn và qua sữa mẹ cũng có tác dụng tương tự cho bé. Thông qua sữa mẹ, cúc La Mã còn có thể làm giảm bớt các triệu chứng đau bụng sữa ở bé. Tốt nhất là dùng hoa cúc để uống trà, mẹ có thể uống cả ngày hoặc ngay trước khi ngủ để có giấc ngủ ngon.

Những loại thảo mộc cần tránh khi cho con bú

Các loại thảo mộc dưới đây mẹ không nên sử dụng trong khi cho con bú trừ khi có chỉ dẫn của chuyên gia:
- Lô hội
- Húng quế
- Thiên ma (Black cohosh)
- Rong biển (Bladderwrack)
- Đại hoàng Trung Quốc
- Tỏi
- Cam thảo

Theo Đại ca 

12/10/2015

Các loại quả phổ biến trong tiếng anh

Avocado : Bơ
Apple : Táo
Orange : Cam
Banana : Chuối
Grape : Nho
Grapefruit (or Pomelo) : Bưởi
Starfruit : Khế
Mango : Xoài
Pineapple : Dứa, Thơm
Mangosteen : Măng Cụt
Mandarin (or Tangerine) : Quýt
Kiwi fruit : Kiwi
Kumquat : Quất
Jackfruit : Mít
Durian : Sầu Riêng
Lemon : Chanh Vàng
Lime : Chanh Vỏ Xanh
Papaya (or Pawpaw) : Đu Đủ
Soursop : Mãng Cầu Xiêm
Custard-apple : Mãng Cầu (Na)
Plum : Mận
Apricot : Mơ
Peach : Đào
Cherry : Anh Đào
Sapodilla : Sapôchê
Rambutan : Chôm Chôm
Coconut : Dừa
Guava : Ổi
Pear : Lê
Persimmon : Hồng
Fig : Sung
Dragon fruit : Thanh Long
Melon : Dưa
Watermelon : Dưa Hấu
Lychee (or Litchi) : Vải
Longan : Nhãn
Pomegranate : Lựu
Berry : Dâu
Strawberry : Dâu Tây
Passion fruit : Chanh Dây



mango - quả xoài

sapota - 
quả hồng xiêm

lemon - 
quả chanh

dates - 
quả chà là

apple - quả táo

grape - 
quả nho

kiwi - 
quả kiwi

custard apple - 
quả na

papaya - 
quả đu đủ

guava - 
quả ổi

fig - 
quả sung

tomato - 
quả cà chua

pineapple - 
quả dứa

cherry - 
quả anh đào

pear - 
quả lê

litchi - 
quả vải

pomegranate - quả lựu

strawberry - 
quả dâu tây

orange - 
quả cam

plum - 
quả mận

02/10/2015

Hoa Phượng tiên


Hạt Giống Hoa Phượng tiên - Balsam Impatiens





Cây bóng nước được ghi trong sách thuốc với tên phượng tiên, hay cấp tính tử ,toàn cây có vị cay, tính ôn, hơi có độc, có tác dụng khử phong thấp, hoạt huyết, chỉ thống, thường dùng chữa phong thấp, bị thương sưng đau, rắn rết cắn. Ngày uống tư 4-12g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng. Phụ nữ có thai không được dùng.

Hạt có vị hơi đắng, tính ôn, hơi có độc, vào hai kinh can và tỳ, có tác dụng giáng khí, hành ứ, thường dùng chữa kinh nguyệt bế tắc, đẻ khó, nấc nghẹn, hóc xương. Ngày dùng 3 lần, ngày dùng 4-6g dưới dạng thuốc bột hoặc viên.

23/09/2015

Danh sách giống cà tím

Cà tím hay cà dái dê ( Solanum melongena) là cây một năm, cao tới 40 – 150 cm , thông thường có gai, với các lá lớn có thùy thô, dài từ 10–20 cm và rộng 5–10 cm. Cà tím được trồng quanh năm và dùng trong nhiều món ăn.
240px-Aubergine
Đất : Cà tím đòi hỏi đất trồng phải tơi xốp, nhiều mùn và dễ thoát nước, cần thường xuyên vun xới đất để tạo độ thông thoáng trước khi trồng cũng như trong quá trình cây ra hoa tạo quả.
Chế độ tưới : nên tưới một ngày từ 1-2 lần vào buổi sáng và chiều muộn. Nguồn nước cần sạch sẽ và không bị lẫn tạp chất.
Phân bón : phân chuồng hoại mục hoặc phân hữu cơ thích hợp nhất cho Cà tím.

 

Mua giống cà tím từ các shop bán hạt giống uy tín. Trên thị trường thông dụng một số giống như Hạt giống cà tím TN55A, Giống Cà Tím Tròn , giống lai F1 . Hoặc bạn có thể tìm các giống cà nhập lạ mắt như  Hạt giống cà tím 'Striped Toga' , Hạt giống cà tím trắng Casper có bán tại TMG.

 

Applegreen Eggplant
Cà tím táo xanh
Xanh
70
An early, light-green eggplant

Aubergine Du Burkina Faso Eggplant
Cà tím Phi
Đỏ 

Eggplant Kamo
Cà tím Kamo
deep purple
65 days
New - Oriental delicacy,

Kermit Eggplant
Cà tím Kermit
green-white
60
Late spring/early summer
Eggplant Kermit Seeds

Black Beauty Eggplant
Cà tím đen
Đen
90

17/09/2015

Thảo mộc thanh lọc gan



Những loại thảo mộc dưới đây sẽ góp phần bảo vệ lá gan của bạn :

Vỏ cây Borotutu


Vỏ cây borotutu được đánh giá là một trong những loại thảo mộc tốt nhất đối với việc thanh lọc gan. Loài thực vật này thường có ở Châu Phi. Ngoài chức năng bảo vệ gan, vỏ cây borotutu còn rất hiệu quả trong chữa bệnh sỏi mật, vàng da. Hàm lượng các chất chống oxy hoá rất cao trong vỏ vây giúp bảo vệ các tế bào gan khỏi sự tấn công của các mầm bệnh.

Diệp hạ châu (chanca Piedra)


Những người dân bản địa sinh sống quanh khu vực sông Amazon đã biết đến công dụng chữa bệnh của diệp hạ châu từ lâu. Diệp hạ châu hay còn gọi là cây chó đẻ có khả năng hỗ trợ thanh lọc gan, túi mật và sỏi thận. Đông y cũng cho rằng, loại thảo mộc này có tính năng lợi tiểu, tiêu độc, sát khuẩn, thông huyết, điều kinh, hạ nhiệt và thường được dùng làm thuốc chữa bệnh gan, thận, các bệnh liên quan đến đường tiết niệu, đường ruột.

Cây hoàng liên (celandine)


Người Hy Lạp và La Mã cổ đại xem cây Hoàng liên là một trong những “thần dược” trong việc làm sạch gan. Cây Hoàng liên có thể kích thích sản sinh enzyme từ tuyến tuỵ về việc sản sinh này hỗ trợ gan loại bỏ các chất độc hại.
Rau diếp xoắn (chicory)

Được biết đến như một loại hoa có màu xanh lam tuyệt đẹp, rau diếp xoắn cũng là một loại thảo mộc có khả năng thanh lọc gan. Đây là một loại cây lưỡng niên có sức chịu đựng khá cao, có nguồn gốc tại vùng khí hậu ôn hoà, trong khu vực Bắc Âu, Tây Á (Ấn độ) và Bắc Phi (Ai Cập) nhưng sau đó đã thích ứng với điều khiện thổ nhưỡng tại các vùng phía Nam của Bắc Mỹ. Dịch chiết từ rễ cây diếp xoắn có khả năng bảo vệ gan, chống lại các thương tổn. Ngoài ra, dịch chiết của loại rau này còn có thêm tác động giúp bình thường hoá trở lại những tế bào gan đã bị hư tổn. Bên cạnh chức năng bảo vệ gan, rau diếp xoắn còn giúp ngăn ngừa sỏi thận, chữa viêm đường tiết niệu, táo bón, ăn khó tiêu, trầm cảm và đau đầu.
Rễ cây bồ công anh

Nhiều người xem bồ công anh là một loại thần dược có tác dụng điều trị loét bao tử, ung độc. Các chuyên gia về thảo dược còn khám phá rằng, loại thảo mộc này còn có khả năng làm sạch gan, giúp chữa trị các bệnh như gan nhiễm mỡ, các bệnh gan mạn tính và bệnh ngoài da.

Nghệ


Loại củ màu vàng này cũng được xem là một công cụ bảo vệ gan hiệu quả, đồng thời kích thích cơ thê tái sinh các tế bào gan. Các nhà ngiên cứu của trường đại học UCLA đã phát hiện ra rằng, nghệ có khả năng tiêu diệt các chất gây ung thư.
Rễ cây chút chít vàng (organic yellow dock root)

Loại thảo mộc này được nhiều người dùng để thanh lọc máu và đây cũng là công cụ đắc lực giúp gan đào thải độc tố. Rễ cây này còn giúp tiêu huỷ chất béo, đồng thời tăng cường giải độc gan.

Hạt Chia


Nhựng hạt bé nhỏ này lại là nguồn dồi dào bât nhất trong thiên nhiên chứa những vi chất quý báu giúp cải thiện chức năng gan, giải độc gan như: Chất xơ, Omega 3, Chất chống oxy hóa (Polyphenols: Myricetin, Quercetin và Kaempfero), các loại Vitamin B…
Astiso

Astiso chứa các hợp chất có tên gọi axit caffeyquinic và chính những hợp chất này giúp tăng cường chức năng gan, đồng thời hỗ trợ gan thanh lọc cơ thể. Ngoài ra, nhiều người còn dùng astiso để chữa các bệnh như viêm đường tiết niệu, hôi miệng.

Cây đậu ván dại (astragalus)


Cây đậu ván dại thuốc họ nhà đậu được người dân Trung Quốc dùng chữa bệnh hàng ngàn năm qua. Loại cây này có khả năng hỗ trợ gan mật, giải độc. Với vị ngọt và tính giữ ấm, cây đậu ván được đánh giá rất thích hợp cho những người thường xuyên vận động. Ngoài chức năng giải độc gan, đậu ván dại còn giúp tăng cường hệ miễn dịch, tăng tuần hoàn máu, xuất mồ hôi và thông tiểu.
Lá boldo

Lá boldo mọc cao và có rất nhiều ở Chile và Peru. Người dân ở những vùng này sử dụng lá boldo để chữa các bệnh về mật, hỗ trợ chức năng gan, chữa viêm đường tiết niệu, viêm bàng quan. Tuy nhiên, loại thảo mộc này chống chỉ định đối với phụ nữ mang thai.
Bạc hà

Bạc hà được biết đến như một loại thảo mộc làm sạch hơi thở. Tuy nhiên, tác dụng của loại thảo mộc này khôn dừng lại ở đó, bạc hà có thể giúp thông khí huyết, đánh tan mô mỡ, đồng thời giúp làm giảm hàm lượng cholesterol có hại, đào thải các chất độc ra khỏi cơ thể.






(Theo Vân Anh tạp chí Sức khoẻ là số một)

30/07/2015

Những bài thuốc hiệu quả từ tỏi và gừng

1. Tỏi với gừng chữa bệnh chân dương kém (suy yếu tình dục nam). Dùng 2 củ tỏi và 30g gừng rang lẫn cùng nhau. Sau đó ăn riêng hoặc ăn cùng (bí quyết là rang cùng). Sau khi ăn liên tục 1 tuần thì sẽ thấy hiệu quả, đặc biệt với người trẻ và suy giảm nhất thời.
2. Cảm cúm lây nhiễm, đầu đau phát sốt, sợ lạnh, không ra mồ hôi, hôi buồn nôn: gừng tươi 15g, tỏi 6 nhánh, đường một ít. Cho cả 3 thứ này vào sắc nước uống, tranh thủ uống lúc nóng, uống xong, lên gường nằm đắp chăn kín. Mỗi ngày uống 1 thang như trên. Tác dụng giải cảm.
Những bài thuốc từ tỏi và gừng hiệu quả không ngờ 1
3. Chữa cảm nắng, hôn mê: gừng tươi, tỏi, rau hẹ mỗi thứ mộtl ượng vừa phải. Rửa sạch 3 thứ trên, gừng tỏi bỏ vỏ, cùng giã nát lấy nước chắt ra uống.
4. Bệnh cảm do gió lạnh: gừng 100g, tỏi 400g, mật ong 10ml, chanh 3 - 4 quả, rượu 800ml. Tỏi bóc vỏ đập dập, chanh và gừng bỏ vỏ xắt miếng cùng đun trong 5ml mật ong. Sau đó đổ rượu vào dung dịch trên ngâm trong vò. Ba tháng sau, lọc lấy nước để uống.
Mỗi lần uống 3 - 5cc pha với nước lọc nguội. Không uống quá nhiều.
5. Nôn mửa do bị cảm lạnh nôn ra nước hoặc một lượng thức ăn nhỏ, sắc mặt tái nhợt, mệt mỏi rã rời, rêu lưỡi trắng, mạch đập yếu: gừng 1 củ, tỏi 1 củ; gừng trộn tỏi giã nát thành bánh, đắp băng ở huyệt Đan điền (dướirốn) và huyệt nội quan (ở cổ tay).
6. Thông kinh hoạt huyết, khử phong tán hàn, trừ tê thấp. Nước gừng tươi, nước hành, nước tỏi, nước lá hẹ, dầu vừng, mỗi thứ 120g, nước lá ngải cứu 30g, rượu trắng 600g. Trước tiên cho nước gừng, hành, tỏi, hẹ, lá ngải vào ấm, trộn đều, rồi cho rượu trắng vào đun to lửa cho sôi. Sau đó rót dầu vừng vào, khuấy đều, rồi đun nhỏ lửa, cho đến khi thật sánh, cho thêm ít tùng hương, hồng đơn vào khuấy đều thành cao, cho vào lọ dùng dần. Khi dùng phải hâm nóng, bôi vào khăn đắp vào chỗ tê, đau. Cứ 1 - 2 ngày thay 1 lần.
7. Tác dụng thông kinh lạc, giảm tê, giảm đau. Đau ngực, phần lớn nguyên nhân là do hàn ngưng tâm mạch, khí đọng trong lồng ngực. Triệu chứng thường thấy, ngực đầy tức, thỉnh thoảng thấy đau, cũng có khi đau dữ dội…Tỏi 2 củ, gừng tươi 8g, khoai môn 60g, sơn dược 60g. Tất cả các thứ trên đem giã nát, đắp vào chỗ đau, lấy gạc đặt lên, dùng băng dính cố định lại.
8. Tuyên lợi, phế khí, khai âm, mất tiếng, phần lớn do nhiệt, phong hàn xâm nhập cổ họng dẫn đến: tỏi 6g, gừng tươi 3g, lá ngải 20g, lòng trắng trứng gà 1 quả. Cả 3 vị thuốc, đem giã nát nhuyễn, cho lòng trắng trứng gà vào trộn đều, đắp vào huyệt đại trùy (nằm chỗ lõm vào đốt sống thứ 7, khi ngồi cúi xuống), và huyệt dũng tuyền ở lòng bàn chân. Sau đó dùng băng băng chặt lại.
9. Giáng hỏa, giảm đau, đau răng: gừng tươi 6g, tỏi 6g, lá chè 12g, uy linh tiên 12g. Tất cả đem giã nát nhuyễn, cho một ít dầu vừng lòng trắng trứng vào, trộn đều đem đắp vào huyệt hợp cốc (chỗ lõm giữa ngón cái vàngón trỏ) và đắp vào huyệt dũng tuyền (chỗ lõm dưới gan bàn chân, nằm ở điểm1/3 từ đầu ngón cái đến gót chân). Sau đó dùng băng dính cố định lại.
10. Kiện tỳ, lợi tiểu, chủ trị viêm thận mãn: gừng tươi 3lát, hành hoa 1 cây, tỏi 3 nhánh. Đem ba vị trên giã nát, nặn thành bánh dánquanh rốn. Mỗi ngày thay băng 3 lần.
Theo Bs hoàng Thuần
http://bachkhoathu.blog.com/2013/07/30/nh%E1%BB%AFng-bi-thu%E1%BB%91c-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-t%E1%BB%AB-t%E1%BB%8Fi-v-g%E1%BB%ABng/











29/07/2015

Con người sung sướng khi nói về bản thân?


Khi chúng ta nói chuyện về bản thân với người khác, nó gây ra các phản ứng hóa học trong cơ thể giống như quan hệ tình dục hay cảm giác hài lòng khi được ăn ngon.
Một nghiên cứu gần đây thực hiện bởi các nhà khoa học đến từ Đại học Harvard, Mỹ cho thấy, con người dành tới 40% thời gian để nói về bản thân mình.
Sau khi chụp ảnh cộng hưởng từ (fMRI) để kiểm tra những người trả lời, các nhà khoa học phát hiện, khi người ta nói về bản thân, một phản ứng hóa học được kích hoạt trong cơ thể họ tương tự như khi xảy ra trong lúc quan hệ tình dục, University Herald đưa tin.



09/06/2015

Dùng 'siêu thực phẩm' đúng cách

Bông cải xanh. 
Bông cải xanh có năng lực chống ung thư, nhưng hiếm người nào chịu ăn sống hoặc hấp lên vì quá ngán. Thay vào đó, họ thường xử lý bằng cách trụng hoặc xào bông cải. Tuy nhiên, muốn hấp thu đủ vitamin C, chlorophyll, những chất chống ô xy hóa và chống ung thư, nên ăn bằng cách hấp. Trụng hoặc chiên xào là cách nấu nướng gây tổn thất nhiều chất dinh dưỡng nhất đối với bông cải xanh.
Dâu tây. 
Chẳng có gì tuyệt hơn được nhấm nháp dâu tây tươi vào mùa hè. Tuy nhiên, để hấp thu tối đa lượng chất xơ, chất chống ô xy hóa và vitamin C, nên tránh cắt vào thân quả dâu. Nhà dinh dưỡng học Kristy Del Coro của SPE Certified, cơ quan thiết lập tiêu chuẩn về chất lượng ẩm thực tại New York (Mỹ), giải thích rằng hành động cắt vào thân quả dâu tây dễ làm thất thoát các chất dinh dưỡng quý báu trong loại trái cây này. Trong trường hợp phải bảo quản, nên đông lạnh nguyên trái và tránh tình trạng quả bị dập trước khi ăn.
Tỏi. 
Không giống như vitamin C, allicin, enzyme chống ung thư có trong tỏi, lại chịu tình trạng phơi giữa không khí. Vì vậy, cố vấn dinh dưỡng Sara Haas của Viện Dinh dưỡng Mỹ khuyên nên cắt lát hoặc bằm tỏi và để như vậy khoảng 10 phút trước khi trộn vào món ăn để hợp chất allicin có thể được kích hoạt hoàn toàn.
Ngũ cốc nguyên hạt và đậu. Ngũ cốc nguyên hạt chưa tinh chế và đậu khô chứa hợp chất gọi là phytate, có công dụng kết dính với vitamin và khoáng chất trong thực phẩm, ngăn cản cơ thể hấp thu những chất này. Hay nói đúng hơn, ngũ cốc nguyên hạt vẫn tồn tại một lớp bao bọc bên ngoài, nên ngâm chúng vào nước qua đêm để nhả bỏ toàn bộ các chất phytate, theo chuyên gia Del Coro.
Sữa chua. Sữa chua thường có một lớp nước bên trên, và nhiều người có thói quen vớt bỏ nó trước khi ăn. Tuy nhiên, lớp chất lỏng này là hợp chất chứa protein và vitamin B12, cùng với các khoáng chất như can xi và phốt pho, theo chuyên gia Haas. Do vậy, nên khuấy sữa chua lên để không làm mất đi lớp nước giàu dinh dưỡng.
Cà chua. 
Cà chua tươi bổ sung một loại gia vị không thể thay thế được trong nhiều món ăn, nhưng nếu bạn muốn hấp thu chất lycopene chống ung thư và tim mạch, nên nấu chúng thay vì ăn sống. Các nhà nghiên cứu của Đại học Cornell (Mỹ) phát hiện hàm lượng chất chống ô xy hóa trong cà chua tăng mạnh nếu được xử lý ở nhiệt độ 88 độ C.
Thịt nướng. 
Hiếm người nào có thể chối từ món thịt nướng, nhưng cần chú ý bỏ phần thịt cháy đen để tránh hấp thụ chất sinh ung thư, theo chuyên gia dinh dưỡng Tanya Zuckerbrot ở New York. “Không nên dựa vào màu sắc của thịt, mà thay vào đó dùng nhiệt kế dùng cho thực phẩm để xác định mức nhiệt độ an toàn”, theo chuyên gia Mỹ. Bộ Nông nghiệp Mỹ tư vấn mức nhiệt độ an toàn bên trong thịt phải vào khoảng 63 độ C.
Măng tây. 
Một báo cáo đăng trên chuyên san Acta Agroculturae Scandinavica đã chỉ ra phương pháp nấu nướng giữ được chất dinh dưỡng trong măng tây. Đó là hấp nhanh hoặc xào nhanh trên lò, và sau đó giữ lại phần nước được tiết ra, vì nó giàu vitamin và khoáng chất. Có thể làm nước xốt hoặc nấu súp bằng loại nước này.

08/06/2015

Hạt Chia Seeds 1lb

 

Hạt image001Chia có tên khoa học là Salvia Hispanica, có giá trị dinh dưỡng vượt trội so với các loại cây và các nguồn hải sản vì rất giàu  acit béo omega-3, hàm lượng protein, chất xơ, canxi và chất chống oxy hóa rất caoacit béo omega-3, hàm lượng protein, chất xơ, canxi và chất chống oxy hóa rất cao.

Hạt chia giúp chống bệnh tiểu đường, tốt cho hệ tiêu hóa, tim mạch, răng và xương khỏe, giảm quá trình oxi hóa , đẹp da và tóc, giảm cân.

 

 

thaomocgarden.com bán sản phẩm hạt chia nguồn gốc thiên nhiên của 2 hãng từ Mỹ Healthworks, Viva lab.

 

07/06/2015

5 'siêu thực phẩm' ngăn ngừa ung thư, đột quỵ

image002

 

6 “siêu thực phẩm” nên thêm vào thực đơn hàng ngày để ngăn ngừa bệnh tim mạch, ung thư và đột quỵ.

 

 

 

 

1. Quả cherry

 

Cherry được phát hiện có chứa hàm lượng cao chất chống oxy hóa, có thể giúp chống viêm, ngủ ngon. Sử dụng nhiều cherry góp phần giảm tác dụng phụ, cải thiện thể lực khi tập luyện thể thao.

clip_image001

2. Bơ

Không chỉ nổi tiếng là thành phần chính trong món sốt guacamole giàu dinh dưỡng, quả bơ còn là nguồn tuyệt vời chất béo bão hòa đơn, giảm lượng cholesterol xấu, hạn chế nguy cơ đau tim và đột quỵ.

Nghiên cứu gần đây cho thấy sự kết hợp một chế độ ăn vừa phải chất béo với một quả bơ mỗi ngày có thể làm giảm nồng độ của cholesterol xấu hơn là một chế độ ăn ít chất béo, hoặc chế độ ăn vừa phải chất béo mà không bơ.

3. Quả nam việt quất

Nam việt quất được biết đến trong nhiều năm qua như một thực phẩm hỗ trợ chống nhiễm trùng đường tiết niệu. Những nghiên cứu gần đây cho thấy loại quả này còn giúp cải thiện sức khỏe tim mạch, ngăn ngừa bệnh ung thư, tăng cường sức khỏe tim mạch và giảm nhiễm trùng.

clip_image002

Qủa nam việt quất. Ảnh: thevedix

4. Việt quất

Với mức độ cao chất chống oxy hóa, vitamin và khoáng chất, quả việt quất mang lại nhiều lợi ích sức khỏe cho tim mạch, phòng chống ung thư, tăng cường chức năng não bộ và cải thiện thị lực.

Một số nghiên cứu cho thấy các chất chống oxy hóa trong quả việt quất có thể giúp làm chậm quá trình lão hóa - một sự thay thế hữu ích hơn tất cả những loại kem chống lão hóa.

5. Hạt Chia

 image001

 

Hạt Chia cũng là một nguồn omega-3 và canxi tuyệt vời. Ảnh: chiaseedspot.

Loại hạt này có lượng tiêu thụ tăng nhanh trong vài năm qua nhờ mức độ cao các chất dinh dưỡng và lượng calo thấp. Bên cạnh chất chống oxy hóa, chất xơ hòa tan và khoáng chất, hạt Chia cũng là một nguồn omega-3 và canxi tuyệt vời.

 

Lê Phương (Theo Healthowealth)

03/06/2015

CÂU KỶ TỬ

 

Tên Việt Nam:

Kỷ tử, Câu khởi, Khởi tử, Địa cốt tử, Khủ khởi.

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcTác dụng:

+ Bổ ích tinh huyết, cường thịnh âm đạo (Bản Thảo Kinh Tập Chú).

+ Bổ ích tinh bất túc,  minh mục, an thần (Dược Tính Bản Thảo).

+ Trừ phong, bổ ích gân cốt,  khử hư lao (Thực Liệu Bản Thảo).

+ Tư thận, nhuận phế (Bản Thảo Cương Mục).

+ Chuyên bổ thận, nhuận phế, sinh tân, ích khí, là thuốc chủ yếu bổ can thận chân âm bất túc, là thuốc tốt để ích tinh,  minh mụ c... (Bản Thảo Kinh Sơ)

+ Kỷ tử có tác dụng tư bổ can thận, sinh tinh huyết, minh mục, nhuận phế (Trung Dược Học).

+ Tư dưỡng Can Thận (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcChủ trị:

+ Trị  xoay xẫm, chóng mặt do huyết hư, thắt lưng đau, Di tinh, tiểu đường  (Trung Dược Học).

+ Trị các chứng can thận âm hư, âm huyết hư tổn, chứng tiêu khát, hư lao, khái thấu (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcLiều dùng: 8 – 20g.

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcKiêng kỵ:

+ Câu kỷ tử có tính chất nê trệ, vì vậy,  thận trọng đối với những bênh nhân tỳ vị hư yếu, tiêu chảy kéo dài (Trung Dược Học).

+ Tỳ vị suy nhược, tỳ hư thấp trệ tiêu chảy cấm dùng, có ngoại tà thực nhiệt cấm dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sá

TÌM HIỂU SÂU THÊM VỀ CÂU KỶ TỬ

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcTên Hán Việt khác:

Vị thuốc câu KỶ TỬ CÒN GỌI Cẩu kế tử (Nhĩ Nhã), Cẩu cúc tử (Bản Thảo Diễn Nghĩa), Khổ kỷ tử (Thi Sơ), Điềm thái tử (Bản Thảo Đồ Kinh), Thiên tinh tử (Bảo Phát), Địa cốt tử, Địa tiết tử (Bản Kinh), Địa tiên tử (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Khước lão tử, Dương nhủ tử, Tiên nhân trượng tử, Tây vương mẫu trượng tử, Cẩu kỵ tử, (Biệt Lục), Xích bảo, Linh bàng tử, Nhị thi lục, Tam thi lục, Thạch nạp cương, Thanh tinh tử, Minh nhãn thảo tử, Tuyết áp san hô (Hòa Hán Dược Khảo).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcTên khoa học:

Fructus Lycii.

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcHọ khoa học:

Thuộc họ Cà (Solanaceae).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcMô tả:

Là cây bụi mọc đứng, phân cành nhiều, cao 0,5-1,5m. Cành mảnh, thỉnh thoảng có gai ngắn mọc ở kẽ lá. Lá nguyên nhẵn, mọc cách, một số mọc vòng, cuống lá ngắn, phiến lá hình mũi mác, hẹp đầu ở gốc. Hoa nhỏ mọc đơn độc ở kẽ lá hoặc có một số hoa mọc chụm lại. Đài nhẵn, hình chuông, có 3-4 thùy hình trái xoan nhọn, xẻ đến tận giữa ống. Tràng màu tím đỏ, hình phễu, chia 5 thùy hình trái xoan tù, có lông ở mép. Nhị 5, chỉ nhị hình chỉ đính ở đỉnh của ống tràng, dài hơn tràng. Bầu có 2 ô, vòi nhụy nhẵn dài bằng nhụy, đầu nhụy chẻ đôi. Quả mọng hình trứng, khi chín màu đỏ sầm, hoặc vàng đỏ. Hạt nhiều hình thân dẹp. Ra hoa từ tháng 6-9, có quả từ tháng 7-10.

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcĐịa lý:

Có nhiều ở Trung Quốc nước ta còn phải nhập, có ở các tỉnh biên giới Việt Nam như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam.

Phần dùng làm thuốc: Dùng quả khô rụng (Fructus Lycii).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcMô tả dược liệu:

Quả khô Câu kỷ tử hình bầu dục dài khoảng 0,5-1cm, đường kính khoảng hơn 0,2cm. Vỏ quả màu tím đỏ hoặc đỏ tươi, mặt ngoài nhăn teo bên trong có nhiều hạt hình tạng thận màu vàng, có một đầu có vết của cuống quả, không mùi, vị ngọt hơi chua, sau khi nếm nước bọt có màu vàng hồng. Loại sản xuất ở Cam túc có quả tròn dài, hạt ít, vị ngọt là loại tốt nhất nên gọi là Cam kỷ tử hay Cam câu kỷ (Dược Tài Học).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcThu hái, sơ chế:

Hái quả hàng năm vào tháng 8-9, phơi khô. Khi quả chín đỏ hái vào sáng sớm hoặc chiều mát, trải mỏng, phơi trong râm mát cho đến khi bắt đầu nhăn mới phơi chỗ nắng nhiều cho đến khi thật khô.

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcBào chế:

+ Lựa thứ quả đỏ tươi, tẩm rượu vừa đều để một hôm, gĩa dập dùng.

+ Thường dùng sống, có khi tẩm rượu sấy khô, hoặc tẩm mật rồi sắc lấy nước đặc, sấy nhẹ cho khô, đem tán bột mịn.

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcBảo quản:

Đựng vào lọ kín để nơi khô ráo, nếu bị thâm đen đem xông diêm sinh hoặc phun rượu, xóc lên sẽ trở lại màu đỏ đẹp

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốchành phần hóa học:

+ Thành phần chủ yếu có Betain, nhiều loại axit amin, polysaccharid, vltamin B1, B2, C, acid nicotinic, Ca, P, Fe.. . (Trung Dược Học).

+Trong Kỷ tử có chừng 0,09% chất Betain (C5H11O2N) (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trong 100g quả có 3,96mg Caroten, 150mg Canxi, 6,7mg P, 3,4mg sắt, 3mg Vit C, 1, 7mg axit nicotic, 0,23mg Amon sunfat (Từ Quốc Quân và Triệu Thủ Huấn)

+ Trong Khởi tử có Lysin, Cholin, Betain, 2,2% chất béo và 4,6% chất Protein, Acid cyanhydric và có thể có Atropin (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

+ Carotene, Thiameme, Riboflavin, Vitamin C, b-Sitosterol, Linoleic acid (Chinese Herbal Medicine).

+ Betain  (Nishiyama R, C A 1965, 63 (4): 4660).

+ Valine, Glutamine, Asparagine (Nishiyama R, C A 1963, 59 (11): 13113b).

+ Trong 100g Câu kỷ tử có Carotene 3,39mg, Thiamine 0,23g, Riboflavine 0,33mg, Nicotinic acid 1,7mg, Vitamin C 3mg  (Từ Quốc Quân, Dược Tài Học, Bắc Kinh 1960: 513).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcTác dụng dược lý:

1. Thuốc có tác dụng tăng cường miễn dịch không đặc hiệu. Trên súc vật thực nghiệm có tác dụng tàng cường khả năng thực bào của hệ lưới nội mô, kết quả nghiên cứu gần đây cho biết Kỷ tử có tác dụng nâng cao khả năng thực bào của tế bào đại thực bào, tăng hoạt lực của enzym dung khuẩn của huyết thanh, tăng số lượng và hiệu giá kháng thể, chứng tỏ Kỷ tử có tác dụng tăng cường tính miễn dịch của cơ thể, thành phần có tác dụng là Polysaccharide Kỷ tử (Trung Dược Học).

2. Thuốc có tác dụng tăng cường chức năng tạo máu của chuột nhắt (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Chất Betain là chất kích thích sinh vật, cho vào thức ăn cho gà ăn có tác dụng tăng trọng và đẻ trứng nhiều hơn, cũng làm cho chuột nhắt tăng trọng rõ (Trung Dược Học).

+ Thuốc có tác dụng hạ Cholesterol của chuột cống, chất Betain của thuốc có tác dụng bảo vệ gan chống thoái hóa mỡ, hạ đường huyết (Trung Dược Học).

+ Chất chiết xuất nước của thuốc có tác dụng hạ huyết áp ức chế tim, hưng phấn ruột (tác dụng như Cholin). Chất Betain không có tác dụng này (Trung Dược Học).

6. Nước sắc Kỷ tử có tác dụng hưng phấn tử cung cô lập của thỏ (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Thuốc có tác dụng ức chế ung thư đối với chuột nhắt S180. Các học giả Nhật Bản có báo cáo năm 1979 là lá và quả Kỷ tử có tác dụng ức chế tế bào ung thư trong ống nghiệm (Trung Dược Học).

+ Các tác giả Trung Quốc trên thực nghiệm cũng phát hiện thuốc (lá, quả và cuống quả của Kỷ tử  (vùng Ninh Hạ) có tác dụng ức chế ở mức độ khác nhau hai loại tế bào ung thư  ở người (Trung Dược Học).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcTính vị:

+ Tính hơi hàn, không độc (Danh Y Biệt Lục).

+ Vị ngọt, tính bình (Dược Tính Bản Thảo).

+ Vị hàn, không độc (Thực Liệu Bản Thảo).

+ Vị ngọt, tính bình (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Vị ngọt, tính bình (Trung Dược Học).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcQui kinh:

+ Vào kinh túc Thiếu âm Thận, túc Quyết âm Can (Bản Thảo Hối Ngôn).

+ Vào kinh túc thiếu âm Thận, thủ Thiếu âm tâm (Bản Thảo Kinh Giải).

+ Vào kinh Can, Thận, Phế (Trung Dược Học).

+ Vào kinh Can, Thận (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcĐơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị mắt đỏ, mắt sinh mộc thịt: Câu kỷ gĩa nát lấy nước, điểm 3-4 lần vào khóe mắt,  rất hiệu nghiệm (Trửu Hậu Phương).

+ Trị mặt nám, da mặt sần sùi: Câu kỷ 10 cân, Sinh địa 3 cân, tán bột, uống 1 muỗng với rượu nóng, ngày uống 3 lần, uống lâu da đẹp như con nít (Thánh Huệ Phương).

+ Trị chảy nước mắt do Can hư: Câu kỷ tử 960g bọc trong túi lụa ngâm trong rượu, đậy thật kín, 21 ngày sau uống (Long Mộc Luận).

+ Trị Can Thận âm hư, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, mắt mờ, hoa mắt, hoặc đau rít sáp trong mắt:  Câu kỷ tử, Cúc hoa mỗi thứ 12g, Thục địa 16g, Sơn dược mỗi thứ 8g, Phục linh, Đơn bì, Trạch tả mỗi thứ 6g. Tán bột trộn làm viên. Mỗi lần uống 12g ngày 2 lần, với nước muối nhạt (Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).

+ Trị suy nhược vào mùa hè, không chịu nổi với thời tiết: Câu kỷ tử, Ngũ vị tử, tán bột pha nước sôi uống thay trà (Nhiếp Sinh Chúng Diệu Phương).

+ Trị suy nhược, thận hư, hoa mắt, mắt mộng thịt:  Cam câu kỷ tử 1 cân, ngâm cho thấm với rượu ngon rồi chia làm 4 phần, 1 phần sao với 40g Thục tiêu, 1 phần sao với 40g Tiểu hồi hương, 1 phần sao với 40g Chi ma (mè), 1 phần sao với Câu kỷ không thôi. Thêm Thục địa, Bạch truật, Bạch phục linh mỗi thứ 40g, tán bột, luyện mật làm viên uống hằng ngày (Tứ Thần Hoàn - Thụy Trúc Đường Kinh Nghiệm Phương).

+ Trị gan viêm mạn tính, gan xơ do âm hư: Bắc sa sâm 12g, Mạch môn 12g, Đưung qui 12g, Kỷ tử 12-24g, Sinh địa 24-40g, Xuyên luyện tử 6g, sắc nước uống (Nhất Quán Tiễn - Liễu Châu Y Thoại)

+ Trị suy nhược, thận hư, lưng đau, gối mỏi, Di tinh, huyết trắng nhiều: Thục địa 320g, Sơn dược (sao) 160g, Câu kỷ tử 160g, Sơn thù nhục 160g, Ngưu tất 120g, Thỏ ty tử 160g, Lộc giao (sao) 160g, Quy bản (sao) 160g, tán bột, trộn mật làm hoàn. Mỗi lần uống 12-16g, ngày 2-3 lần (Tả Quy Hoàn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).

+ Trị hoa mắt, thị lực giảm sút, cườm mắt tuổi gìa, thủy tinh thể dục:  Thục địa 320g, Sơn thù 1690, Sơn dược 160g, Đơn bì 80g, Trạch tả 80g, Phục linh 80g, Cúc hoa 120g, Câu kỷ tử 120g. Tán bột, trộn với mật làm hoàn, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 10-12g (Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn - Y Cấp) .

+ Câu kỷ tử, Thục địa, Ngũ vị tử, Mạch môn đông, Địa cốt bì, Thanh hoa, Miết giáp, Ngưu tất trị âm hư lao nhiệt nóng bức rứt âm ỉ trong xương, hoặc muốn dùng làm thuốc chính để trị phát sốt, lạnh thì thêm Thiên môn đông, Bách bộ, Tỳ bà diệp, có thể trị được cả chứng ho do âm hư, phế nhiệt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). 

+ Câu kỷ tử, hái những quả chín đỏ hằng ngày, tẩm giấm, rượu,rồi lấy giấy sáp phong niêm kín lại đừng làm cho bay hơi đủ hai tháng đổ vào chậu khuấy nhừ nát lọc lấy nước rồi ngâm với rượu. Sau đó cho vào nồi bạc nấu lửa liu riu nhỏ, đồng thời quấy luôn để khỏi dính và đều cho tới khi thành cao như Mạch nha, cuối cùng bỏ vào bình sạch đậy kỹ, mỗi buổi sáng uống mỗi lần 2 muỗng canh lớn, trước khi đi ngủ, liên tục trong 100 ngày mới thấy mạnh khỏe (Kim Tủy Tiễn - Kinh Nghiệm Phương).

+ Câu kỷ tử 2 thăng, vào ngày Nhâm quý tháng 10 giờ Dần, đứng quay về hướng đông mà hái rồi lấy rượu tốt 2 thăng ngâm trong bình sứ 21 ngày xong cho vào 3 thăng nước cốt Sinh địa trộn đều, niêm lại cho thật kín, Đến ngày 30 trước tiết Lập xuân mở bình, uống một chén hâm nóng lúc bụng đói, đến sau tiết lập xuân râu tóc bạc thì cũng biến thành đen. Cấm ăn hành, tỏi, su hào (Câu Kỷ Tử - Kinh nghiệm phương).

+ Trị hoa mắt, thị lực giảm sút, cườm mắt tuổi gìa, thủy tinh thể dục: Cúc hoa 8g,  Kỷ tử 20g, Nhục thung dung 12g, Ba kích thiên 8g, sắc nước uống (Cúc Thanh Thang - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Trị nam giới sinh  dục suy yếu (vô sinh): Mỗi tối nhai 15g Câu kỷ tử, liên tục 1 tháng, thường sau khi tinh dịch trở lại bình thường, uống thêm 1 tháng. Trong thời gian uống thuốc, kiêng phòng dục. Đã trị 42 ca, sau 1 liệu trình: hồi phục bình thường 23 ca, sau 2 tháng bình thường 10 ca, có 6 ca không có kết quả vì không có tinh trùng, 3 ca không kết quả, theo dõi sau 2 năm, tinh dịch trở lại bình thường, 3 ca đã có con (Đông Đức Vệ và cộng sự, ‘Kỷ Tử Trị vô sinh Nam Giới’, Tân Trung Tạp Chí 1987, 2: 92)

+ Trị dạ dầy viêm teo mạn  tính:  Dùng Kỷ tử rửa sạch, sao khô, giă nát, đóng gói. Mỗi ngày uống 20g, chia làm 2 lần lúc bụng đói và nhai uống, 2 tháng là một liệu trình. Trong thời gian uống thuốc, ngưng tất cả các loại thuốc khác. Đã trị 20 ca, theo dõi 2- 4 tháng, có kết quả tốt 15 ca, có kết quả 5 ca (Trần Thiệu Dung và cộng sự, ‘Báo Cáo 20 Ca Dạ Dầy Viêm Teo Mạn Tính Điều Trị Bằng Câu Kỷ Tử,’ Trung Y Tạp Chí 1987, 2: 92).

+ Trị  thận hư, tinh thiếu, lưng đau, vùng thắt lưng đau mỏi: Câu kỷ tử, Hoàng tinh, 2 vị bằng nhau, tán bột, luyện mật làm viên, mỗi lần 12g, ngày uống 2 lần với nước nóng (Câu Kỷ Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)..

+ Trị Can hư sinh ra bệnh ở mắt, ra gió chảy nước mắt: Câu kỷ tử, dùng rượu ngâm sau 3-7 ngày, mỗi lần uống 1-2 muỗng canh, ngày 2 lần (Câu Kỷ Tửu - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcTham khảo:

+ Câu kỷ tử có tác dụng bổ tinh khí, bổ suy nhược làm cho người xinh tươi hồng hào, sáng rõ tai mắt, yên thần định chí sống lâu (Bản Thảo Dược Tính).

+ Câu kỷ tử làm cứng mạnh gân xương, sống dai lâu gìa, trừ phòng phong bệnh bổ hư lao, ích tinh khí (Thực Liệu Bản Thảo).

+ Câu kỷ tử chữa được những bệnh ở tim, ọe khan đau tim, đau họng khát nước vì thận có bệnh cho nên hay làm nên chứng tiêu khát (Thang Dịch Bản Thảo).

+ Câu kỷ tử có tính giúp cho thận, nhuận được phế, dùng nó ép lấy dầu thắp sáng đèn làm sáng mắt (Bản Thảo Cương Mục).

+ Câu kỷ tử có vị cay vừa, khí ấm vừa và mát, tính có thể lên xuống được, vị nặng nên hay bổ âm nhưng tính của nó là âm trong có dương nên cổ được khí. Xét cho đúng thì nó chỉ xét cho dương một phần nào thôi, chứ không có tính cách kích động nên những người biết dùng thì dùng để tiếp thêm sức cho Thục địa là đúng. Còn vấn đề công dụng của nó thì có thể làm cho thông minh tai mắt, yên ổn tâm thần tăng thêm tinh tủy, cứng mạnh gân xương, bù đắp vào những chỗ bất túc nhất là lao thương quá độ. Vì vậy khi mà thận khí đã đầy đủ thì chứng tiêu khát không còn nữa, còn những người bị chân âm suy tổn mà đau ở sau lưng dưới rốn, mê man dùng nó thì công hiệu (Cảnh Nhạc Toàn Thư).

+ Câu kỷ tử có vị ngọt tính bình là vị thuốc chính của Thận, vì vậy mà bổ Thận ích tinh, khi Thận thủy đã mạnh thì gân xương rắn chắc vững vàng nên chứng tiêu khát lui cả, còn những chứng mắt mờ, tai điếc, lưng đau, chân yếu cũng theo đó mà biến mất (Bản Thảo Thông Nguyên).

+ Đi xa ngàn dặm thì không nên dùng Câu kỷ tử vì nó bổ thận quá cho nên kích thích đến tình dục, nó có khí bình không nóng, nó có tác dụng bổ thận chế hỏa, công hiệu như Thục địa nhưng chỉ tiếc khí nóng bứt rứt trong xương muốn trừ nó mà chưa từng dùng được (Danh Y Biệt Lục).

+ Câu kỷ tử vị ngọt mát tính nhuận, các sách ghi rằng có tác dụng khu phong, minh mục, mạnh gân xương, bổ tinh, tráng dương. Xét đúng ra thì Thận thủy suy thiếu uống vào có tính cam nhuận thì âm phải theo dương mà sinh trưởng. Khi Thận thủy đã đầy đủ thì tự nhiên phong sẽ bị tán ngay, vì thế nó có tác dụng làm sáng được tai mắt, cứng xương, mạnh gân. Đó lại càng chứng minh rằng Câu kỷ tử là một vị thuốc tư thủy, do đó mà các sách đều cho rằng nó có tác dụng chữa được tiêu khát. Ngày nay thấy nó sắc đỏ mà tưởng lầm là thuốc bổ dương thì quá sai lầm. Tại sao không biết rằng những thứ đã gọi là khí hàn thì có bao giờ mà bổ dương được? Nếu cứ cho sắc đỏ đó là bổ dương thì Hồng hoa, Tử thảo thì sắc nó cũng đỏ mà có ai quả quyết là thuốc bổ dương đâu, có kẻ lại cho rằng tính nó hoạt huyết. Than ôi! đạo làm thầy thuốc mà không rành, chỉ hạn hẹp trong mấy cuốn sách, nghĩ quẩn quanh, cái gì còn hồ nghi phải gắng sức nghiên cứu cho tới đầu tới đuôi. Nói chung quy chỉ vì xem sách không tinh, định câu không rõ nghĩa không thể nhận xét mà lý hội cho đến cùng, chỉ biết một đoạn nào đó thì biết làm sao được! Chẳng hạn những bệnh thuộc hư hàn mà dám dùng nó thì chuyện xảy ra chẳng những không thể bổ được phần dương mà hư lại càng hư thêm rồi sinh ra những chứng tiêu chảy không cầm được, có khi tới chết. Đó chính là sai một ly đi một dặm nó biến chuyển nhanh như thế, sao lại cho rằng dùng thuốc không cần cẩn thận lắm cũng được vậy mà? (Bản Thảo Cầu Chân).

+ Câu tử có vị ngọt đắng tính lạnh, nhập vào kinh Can và Thận, có tác dụng bổ âm tráng thủy, tưới nhuần được cho Can, thanh trừ được phong độc. Nhờ được tính đắng mát cho nên Tỳ dễ tiết, với những dạng người có bệnh Tỳ thổ khô táo, táo bón mới nên dùng nó; Với nhưng người có thủy hàn khô thấp, trường vị hoạt tiết, tiêu lỏng, tiêu sệt luôn thì không nên dùng nó vì có thể sinh ra tiêu chảy. Nếu ai gọi nó là thuốc trợ dương khí là sai hoàn toàn (Trường Sa Dược Giải).

+ Dùng với Thục địa là rất hay, thuốc làm sáng mắt,  thính tai, ích tinh, cố tủy, kiện cốt, cường cân, chuyên bổ lao thương, chỉ tiêu khát, chân âm hư mà bụng rốn đau không khỏi, dùng nhiều rất hay (Cảnh Nhạc Toàn Thư').

+ Câu kỷ tử chuyên bổ huyết, không thuốc nào hơn (Trùng Khánh Đường Tùy Bút).

+ Câu kỷ tử cảm khí xuân hàn của trời, lại được cả khí xung hòa của đất để sinh ra, vị nó ngọt, tính bình cho nên là vị thuốc chính có công năng chuyên bổ cho chân âm của Can và Thận. Họ Đào nói: Xa nhà ngàn dặm chớ ăn Câu kỷ tử, ý nói sức cường dương của nó đó thôi (Dược Phẩm Vậng Yếu).

+ Chu Nhụ Tử trông thấy bên chỗ khe suối có hai bụi rậm hoa xanh tươi trông rất đẹp, bỗng thấy một chó lớn đuổi một con chó nhỏ phóng vào bụi hoa gần ngay gốc cây Kỷ tử. Họ trông thấy vậy nhưng không biết nó biến đi đâu, liền cùng nhau đào ở gốc cây Kỷ tử thì thấy ở gốc có hai cái rễ lớn nhỏ như hai con chó nằm gọn ở đó, họ bèn đem về nấu ăn, tự nhiên thấy khỏe, khoan khoái trong người. Ông nói đó là cây Kỷ tử của tiên trồng có hơn cả ngàn năm nên mới hóa hình con chó (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). 

+  Tục truyền ngày xưa cây này mùa xuân gọi là Thiên tinh tử, mùa hè gọi là Câu kỷ diệp, mùa thu gọi là Khước lão, mùa đông gọi là Địa cốt bì (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). 

+ Câu kỷ tử còn cho lá và ngọn gọi là Câu kỷ hành diệp, có vị đắng, tính lạnh, không độc, thường nấu với thịt dê ăn bổ, có tác dụng trừ phong, sáng mắt. Có thể thay trà để uống, công dụng chỉ khát, hết bứt rứt, nóng nảy, bổ sinh dục, giải độc của miến. Nó rất ghét sữa tô. Lấy nước cốt của nó nhỏ vào mắt có tác dụng trừ mộng thịt ở mắt, màng đỏ ở mắt, choáng váng, hoa mắt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). 

+ Cây còn cho mầm gọi là Câu kỷ miêu có vị đắng tính lạnh, có tác dụng trừ phiền, ích chí, khu phong, minh mục, tiêu nhiệt độc, tán sang thủy (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). 

+ Dùng hạt Câu kỷ tử loại ở Cam châu nấu chín, gĩa nát, trộn với men gạo hoặc lấy hạt Câu kỷ cùng với Sinh địa hoàng chế thành rượu uống gọi là rượu Câu kỷ (Câu Kỷ Tửu). Dùng hạt Câu kỷ trộn gạo nấu cháo có tác dụng bổ tinh huyết, ích thận khí, thiếu huyết, thận suy dùng rất tốt gọi là Câu kỷ tử chúc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). 

+ Loại Câu kỷ ở Cam châu, Trung Quốc có màu đỏ thịt dẻo, ít hột là thứ tốt nhất (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Câu kỷ, hột của nó gọi là Câu kỷ tử, rễ gọi là Địa cốt bì. Rễ có vị đắng hơn, tính hàn hơn, còn hột thì ngọt nhiều, đắng ít. Công dụng của hai thứ này có khác nhau. Câu kỷ tử là thuốc tư bổ Thận âm, Địa cốt bì là thuốc trị chứng nóng âm ỉ trong xương (Đông Dược Học Thiết Yếu).

 Câu kỉ tử, câu kỷ tử, kỉ tử, kì tử - vị thuốcPhân biệt:

(1) Ở Việt Nam không có loại Lycium chinensis Miller, mà có cây Câu kỷ (Lycium ruthanicum Murray) cùng họ trên đó là cây cỏ, cành có gai. Lá nguyên mọc so le. Hoa tím nhạt mọc ở kẽ lá. Quả hình trứng thuôn, khi chín màu đỏ, có nhiều hạt. Cây được trồng nhiều nơi làm rau ăn và làm thuốc. Trồng bằng cành hoặc hạt vào mùa xuân, chỉ dùng lá nấu canh và chữa ho. Có khi quả chín đỏ được dùng thay thế Khởi tử, Vỏ rễ làm Địa cốt bì, không đúng với cây trên, cần phải nghiên cứu lại.

(2) Vị này cho vỏ rễ của cây (Cortex lycii Chinensis) gọi là Địa cốt bì (Danh Từ Dược Học Đông Y).